Thị trường vốn trước nhu cầu 450 tỷ USD cho hạ tầng

(TBTCO) - Với nhu cầu khoảng 450 tỷ USD cho hạ tầng trong 5 năm tới, thị trường vốn được kỳ vọng đảm nhận vai trò lớn hơn trong bổ sung nguồn lực bên cạnh đầu tư công và tín dụng ngân hàng.
aa

Tăng lực vốn cho phát triển hạ tầng

Chia sẻ tại hội thảo “Thúc đẩy huy động vốn phát triển hạ tầng Việt Nam qua Thị trường Trái phiếu: Các cấu trúc vốn và xu hướng đầu tư bền vững” do VIS Rating tổ chức ngày 20/8, ông Đỗ Lê Thành Đạt - Phó Giám đốc kiêm Chuyên gia phân tích VIS Rating cho rằng, nhu cầu đầu tư hạ tầng lớn trong những năm tới đang đặt ra yêu cầu mở rộng các kênh huy động vốn, đặc biệt là thị trường vốn.

Việt Nam đang bước vào một chu kỳ phát triển mới với quy mô đầu tư hạ tầng gia tăng mạnh tại nhiều địa phương như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Phú Quốc. Trong bối cảnh nhiều dự án cùng được đẩy nhanh để hướng tới các mục tiêu năm 2030, một kênh huy động vốn riêng lẻ khó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Do đó, nguồn lực từ Nhà nước, hệ thống ngân hàng và thị trường vốn cần được phối hợp để đáp ứng yêu cầu đầu tư.

Thị trường vốn trước nhu cầu 450 tỷ USD cho hạ tầng
Ông Đỗ Lê Thành Đạt - Phó Giám đốc kiêm Chuyên gia phân tích VIS Rating chia sẻ nghiên cứu về tài trợ cơ sở hạ tầng.

Cùng với đó, trong 5 năm qua, đầu tư công chiếm gần 30% nguồn vốn cho hạ tầng. Thời gian tới, dù quy mô đầu tư công về giá trị tuyệt đối tiếp tục tăng, tỷ trọng trong tổng nguồn vốn dự kiến giảm dần. Vai trò của Nhà nước theo đó sẽ chuyển mạnh hơn sang tạo động lực, huy động và thu hút nguồn vốn tư nhân tham gia phát triển hạ tầng.

Ở khu vực tư nhân, ông Đạt cho biết, tín dụng ngân hàng hiện vẫn giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, nguồn vốn dài hạn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn của ngân hàng, trong khi các dự án hạ tầng thường có thời gian kéo dài từ 20 - 30 năm. Sự chênh lệch về kỳ hạn khiến khả năng cung cấp nguồn vốn dài hạn của hệ thống ngân hàng bị hạn chế.

Bên cạnh đó, thị trường còn đối mặt với rủi ro tập trung khi cùng một nhóm ngân hàng, nhà tài trợ và nhà thầu tham gia nhiều dự án, làm giảm mức độ đa dạng hóa nguồn vốn. Trong bối cảnh dư địa của tín dụng ngân hàng có giới hạn, thị trường vốn được kỳ vọng đảm nhận vai trò lớn hơn trong tài trợ hạ tầng.

Giảm rủi ro, mở đường cho vốn dài hạn

Thách thức không chỉ nằm ở việc tìm kiếm nhà đầu tư mà còn ở khả năng hình thành các dự án đáp ứng yêu cầu huy động vốn. Theo phân tích của ông Đạt, hiện các dự án hạ tầng tại Việt Nam phải đối mặt với bốn nhóm rủi ro chính.

Dự kiến giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam cần khoảng 450 tỷ USD cho đầu tư hạ tầng, trong đó khoảng 150 tỷ USD kỳ vọng đến từ khu vực tư nhân. Riêng thị trường vốn cần huy động khoảng 20 - 25 tỷ USD. Trong khi đó, 5 năm qua, nguồn vốn dành cho hạ tầng huy động qua trái phiếu và cổ phần mới đạt khoảng 3,9 tỷ USD. Như vậy, quy mô huy động trong 5 năm tới cần tăng khoảng 6 lần.

Trước hết là giải phóng mặt bằng, yếu tố gây chậm tiến độ đối với 56% dự án công và nằm ngoài khả năng kiểm soát của các nhà tài trợ. Tiếp đó là nguy cơ đội vốn, trong một số trường hợp có thể tăng gấp đôi, làm phát sinh nhu cầu tái cấp vốn. Rủi ro bao tiêu, đặc biệt liên quan đến giá điện và các thỏa thuận mua bán điện, cũng ảnh hưởng đến khả năng dự báo dòng tiền.

Cùng với đó là rủi ro về nhu cầu thực tế. Khoảng 40% dự án BOT giao thông ghi nhận nguồn thu thực tế thấp hơn dự báo do các giả định ban đầu về nhu cầu ở mức cao. Những yếu tố này khiến hạ tầng được nhà đầu tư định giá là tài sản có mức độ rủi ro cao thay vì tài sản an toàn.

Những rủi ro của dự án cũng phản ánh vào hoạt động phát hành trên thị trường vốn. Sau giai đoạn tăng mạnh năm 2021 với sự tham gia của nhiều dự án năng lượng tái tạo, hoạt động phát hành giảm đáng kể từ năm 2022. Hiện lĩnh vực điện chỉ chiếm khoảng 11 - 24% thị trường. Nhiều doanh nghiệp có xu hướng phát hành trái phiếu kèm tài sản bảo đảm, song cấu trúc này chưa tạo thành một thị trường trái phiếu hạ tầng đúng nghĩa.

Về khung pháp lý, chuyên gia từ VIS Rating đánh giá, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện chính sách nhằm hỗ trợ thị trường. Từ năm 2024, yêu cầu xếp hạng tín nhiệm đã được áp dụng bắt buộc đối với các trường hợp phát hành trái phiếu thuộc diện quy định. Tuy nhiên, quy định về tỷ lệ nợ trên vốn đối với các công ty dự án (SPV) vẫn chưa thực sự phù hợp với đặc thù thâm dụng vốn của lĩnh vực hạ tầng.

Chi phí vốn cũng là một trở ngại đáng chú ý. Trái phiếu phát sinh nghĩa vụ trả lãi ngay từ giai đoạn đầu, trong khi dự án hạ tầng có thể mất từ 5 - 11 năm mới bắt đầu tạo nguồn thu. Khoảng cách này tạo áp lực tài chính lớn cho doanh nghiệp dự án so với hình thức vay ngân hàng. Chính phủ hiện tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến PPP nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong huy động vốn cho các dự án.

Kinh nghiệm từ Ấn Độ cho thấy một cách tiếp cận khác trong huy động vốn. Tại đây, ngân hàng được phép phát hành trái phiếu hạ tầng để huy động nguồn vốn và cho các dự án vay lại, thay vì chỉ dựa vào công ty dự án trực tiếp phát hành. Nước này cũng áp dụng các ưu đãi về thuế, miễn giảm thuế đối với lợi nhuận đầu tư và giảm yêu cầu dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng huy động vốn cho hạ tầng. Những chính sách này đã góp phần thúc đẩy thị trường hạ tầng phát triển mạnh sau năm 2022.

Tại Việt Nam, khả năng huy động các nguồn vốn dài hạn cho dự án hạ tầng vẫn còn hạn chế. Trong đó, các nguồn vốn có kỳ hạn dài như Bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí tự nguyện chưa tham gia nhiều vào trái phiếu hạ tầng do yêu cầu cao về an toàn và mức độ rủi ro của tài sản. Vì vậy, thay vì thay đổi khẩu vị của nhà đầu tư, cấu trúc rủi ro của sản phẩm cần được điều chỉnh để phù hợp hơn với yêu cầu đầu tư của nhóm này.

Trong bối cảnh đó, tăng cường tín dụng và xếp hạng tín nhiệm được xem là một trong những giải pháp quan trọng. Việc bảo lãnh một phần hoặc toàn phần có thể góp phần thu hẹp khoảng cách về rủi ro, đưa trái phiếu hạ tầng vào nhóm tài sản mà các quỹ bảo hiểm và hưu trí có thể tiếp cận. Đồng thời, việc đánh giá tín nhiệm cần bao quát toàn bộ vòng đời dự án, từ giai đoạn xây dựng đến vận hành, cùng với năng lực và uy tín của nhà bảo trợ dự án.

Thu Hương

Đọc thêm

Khối ngoại mạnh tay gom cổ phiếu Techcombank, Hòa Phát, FPT Retail

Khối ngoại mạnh tay gom cổ phiếu Techcombank, Hòa Phát, FPT Retail

(TBTCO) - Dù tiếp tục bán ròng 275 tỷ đồng trên cả ba sàn trong phiên 20/10, nhà đầu tư nước ngoài vẫn giải ngân mạnh vào một số cổ phiếu riêng lẻ. TCB dẫn đầu chiều mua ròng với hơn 345 tỷ đồng.
Gang thép Thái Nguyên báo lãi trở lại, doanh thu tăng gần 40%

Gang thép Thái Nguyên báo lãi trở lại, doanh thu tăng gần 40%

(TBTCO) - Doanh thu tăng gần 40% giúp Gang thép Thái Nguyên đảo chiều kết quả kinh doanh, từ mức lỗ 12,3 tỷ đồng sang lãi hơn 4,4 tỷ đồng trong quý III/2026.
Ba doanh nghiệp bị xử phạt gần 680 triệu đồng do vi phạm quy định về chứng khoán

Ba doanh nghiệp bị xử phạt gần 680 triệu đồng do vi phạm quy định về chứng khoán

(TBTCO) - Thanh tra Chứng khoán Nhà nước vừa ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 3 doanh nghiệp với tổng số tiền 680 triệu đồng. Các vi phạm chủ yếu liên quan đến công bố thông tin không đầy đủ, sai lệch, chậm công bố thông tin và không thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo quy định.
Chứng khoán ngày 20/10: Lực cầu cuối phiên giúp VN-Index đảo chiều "xanh nhẹ"

Chứng khoán ngày 20/10: Lực cầu cuối phiên giúp VN-Index đảo chiều "xanh nhẹ"

Sau phần lớn thời gian giao dịch dưới tham chiếu, VN-Index bất ngờ đảo chiều tăng điểm vào cuối phiên nhờ lực cầu cải thiện tại nhóm thép và một số cổ phiếu vốn hóa vừa. Tuy nhiên, thanh khoản duy trì ở mức thấp cho thấy dòng tiền vẫn thận trọng, đà hồi phục chưa thực sự vững chắc.
Chứng khoán phái sinh ngày 20/10: VN30-Index đảo chiều tăng, chênh lệch dương nới rộng

Chứng khoán phái sinh ngày 20/10: VN30-Index đảo chiều tăng, chênh lệch dương nới rộng

(TBTCO) - VN30-Index phục hồi trong phiên chiều sau khi chịu áp lực điều chỉnh phần lớn thời gian giao dịch, với lực đỡ nổi bật từ HPG và VIC. Trên thị trường phái sinh, hợp đồng tháng 11 duy trì chênh lệch dương và thanh khoản tăng trở lại.
S&I Ratings: Áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp gia tăng trong năm 2027

S&I Ratings: Áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp gia tăng trong năm 2027

Áp lực đáo hạn trái phiếu doanh nghiệp được dự báo tiếp tục gia tăng trong năm 2027, với tổng giá trị khoảng 276 nghìn tỷ đồng, riêng nhóm bất động sản chiếm 57%.
Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Đỗ Lê Thành Đạt - Phó Giám đốc, Chuyên gia phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu của VIS Rating nhận định, phát triển trái phiếu hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và khả năng định giá rủi ro sẽ góp phần mở rộng cơ hội huy động vốn dài hạn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Khối ngoại giải ngân mạnh vào FPT Retail

Khối ngoại giải ngân mạnh vào FPT Retail

(TBTCO) - Trong khi VN-Index giảm hơn 16 điểm, xuống dưới ngưỡng 1.700 điểm, nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng gần 800 tỷ đồng trên HOSE. Điểm sáng đáng chú ý là cổ phiếu FRT của FPT Retail được mua ròng gần 151 tỷ đồng, đồng thời ngược dòng tăng 3,55%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

Chứng khoán

Chứng khoán quốc tế

GSPC +21.84
21/10 | +21.84 (7,712.57 +21.84 (+0.28%))
DJI +529.85
21/10 | +529.85 (52,495.88 +529.85 (+1.02%))
IXIC -6.07
21/10 | -6.07 (26,424.82 -6.07 (-0.02%))
NYA +223.55
21/10 | +223.55 (24,190.62 +223.55 (+0.93%))
XAX -3.97
21/10 | -3.97 (8,577.09 -3.97 (-0.05%))
BUK100P -3.34
21/10 | -3.34 (1,065.10 -3.34 (-0.31%))
RUT +45.12
21/10 | +45.12 (2,773.42 +45.12 (+1.65%))
VIX -1.13
21/10 | -1.13 (17.31 -1.13 (-6.13%))
FTSE -31.69
21/10 | -31.69 (10,733.00 -31.69 (-0.29%))
GDAXI -15.35
21/10 | -15.35 (25,304.42 -15.35 (-0.06%))
FCHI -29.56
21/10 | -29.56 (7,838.49 -29.56 (-0.38%))
STOXX50E -23.15
21/10 | -23.15 (6,121.66 -23.15 (-0.38%))
N100 -8.83
21/10 | -8.83 (1,852.82 -8.83 (-0.47%))
BFX +86.21
21/10 | +86.21 (5,620.43 +86.21 (+1.56%))
MOEX.ME -0.11
21/10 | -0.11 (85.20 -0.11 (-0.13%))
HSI +115.67
21/10 | +115.67 (23,983.41 +115.67 (+0.48%))
STI +16.50
21/10 | +16.50 (5,420.52 +16.50 (+0.31%))
AXJO -2.80
21/10 | -2.80 (8,814.10 -2.80 (-0.03%))
AORD -6.30
21/10 | -6.30 (8,937.90 -6.30 (-0.07%))
BSESN -876.38
21/10 | -876.38 (73,852.90 -876.38 (-1.17%))
JKSE +282.28
21/10 | +282.28 (5,278.89 +282.28 (+5.65%))
KLSE -0.16
21/10 | -0.16 (1,599.42 -0.16 (-0.01%))
NZ50 +94.00
21/10 | +94.00 (13,725.69 +94.00 (+0.69%))
KS11 +190.85
21/10 | +190.85 (5,743.59 +190.85 (+3.44%))
TWII +890.67
21/10 | +890.67 (47,183.60 +890.67 (+1.92%))
GSPTSE +179.33
21/10 | +179.33 (36,107.96 +179.33 (+0.50%))
BVSP +3,216.73
21/10 | +3,216.73 (208,295.98 +3,216.73 (+1.57%))
MXX +247.91
21/10 | +247.91 (69,258.58 +247.91 (+0.36%))
MERV 0.00
21/10 | 0.00 (2,848,945.25 0.00 (0.00%))
TA125.TA +19.35
21/10 | +19.35 (4,091.46 +19.35 (+0.48%))
CASE30 +990.20
21/10 | +990.20 (52,089.00 +990.20 (+1.94%))
JN0U.JO +111.56
21/10 | +111.56 (6,733.40 +111.56 (+1.68%))
FPACEPE-USD-TR.FGI +15.71
21/10 | +15.71 (10,023.36 +15.71 (+0.16%))
DX-Y.NYB +0.11
21/10 | +0.11 (101.81 +0.11 (+0.10%))
FPACEBOUS-USD-TR.FGI +11.71
21/10 | +11.71 (10,925.79 +11.71 (+0.11%))
125904-USD-STRD +3.40
21/10 | +3.40 (2,735.89 +3.40 (+0.12%))
XDB +0.78
21/10 | +0.78 (133.80 +0.78 (+0.59%))
XDE +0.26
21/10 | +0.26 (112.36 +0.26 (+0.23%))
FPCPEXVM-USD-TR.FGI +11.34
21/10 | +11.34 (10,585.29 +11.34 (+0.11%))
000001.SS -0.80
21/10 | -0.80 (3,734.57 -0.80 (-0.02%))
N225 +916.94
21/10 | +916.94 (64,992.36 +916.94 (+1.43%))
XDN +0.13
21/10 | +0.13 (63.22 +0.13 (+0.21%))
XDA +0.23
21/10 | +0.23 (70.02 +0.23 (+0.33%))
FPCPEXVA-USD-TR.FGI -25.03
21/10 | -25.03 (6,927.81 -25.03 (-0.36%))