Thoát đáy khó khăn, tài chính tiêu dùng vẫn tiếp tục hút vốn ngoại

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thoát đáy khó khăn, thị trường tài chính tiêu dùng được đánh giá còn nhiều tiềm năng tăng trưởng cao trong dài hạn và vẫn được nhiều nhà đầu tư ngoại để mắt. Tỷ lệ nợ xấu của các công ty tài chính tiêu dùng cũng được kỳ vọng cải thiện trong năm 2025.
aa

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm của lĩnh vực cho vay tiêu dùng gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2010 - 2020, đạt 33,7%.

Sau khi tăng trưởng bùng nổ giai đoạn đầu, tốc độ tăng trưởng tín dụng tiêu dùng giảm đi đáng kể song vẫn là một mảng kinh doanh hấp dẫn trong dài hạn và được nhiều nhà đầu tư ngoại để mắt thông qua các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A).

Nhà đầu tư ngoại vung tiền mua công ty tài chính

Các thương vụ M&A trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng tiếp tục nhộn nhịp thời gian gần đây. Tháng 6/2023, SHB chuyển nhượng 50% cổ phần SHBFinance cho Ngân hàng TNHH Đại chúng Ayudhya (Krungsri) - thành viên Tập đoàn MUFG (Nhật Bản). Cuối năm 2024, Ngân hàng Krungsri đề nghị muốn mua trước hạn 50% vốn điều lệ còn lại của SHBFinance.

Đầu năm 2025, NHNN chính thức ban hành văn bản chấp thuận việc SeABank chuyển nhượng toàn bộ 100% vốn Công ty Tài chính Bưu điện (PTF) cho AEON Financial Service Co., Ltd. (AEON Financial). Thương vụ chuyển nhượng này đã được ký kết vào ngày 20/10/2023, với giá trị 4.300 tỷ đồng, nhằm giúp SeABank cơ cấu nguồn vốn, tăng cường năng lực tài chính để mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ, thúc đẩy các hoạt động kinh doanh theo hướng trọng tâm.

Tập đoàn công nghệ tài chính SCB X của Thái Lan cũng dự kiến sẽ hoàn tất thương vụ mua lại Home Credit Việt Nam trong nửa đầu năm 2025, tùy thuộc vào sự chấp thuận của các cơ quan có thẩm quyền. Giá trị thương vụ ước khoảng gần 900 triệu USD.

Năm 2021, VPBank bán 49% vốn điều lệ tại FE Credit cho Tập đoàn Tài chính Sumitomo Mitsui (Nhật Bản) với giá 1,4 tỷ USD. Cách đó khoảng 7 năm, VPBank mua lại 100% vốn chủ sở hữu của Công ty Tài chính Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng - trước đó có tên là Công ty TNHH MTV Tài chính Than - Khoáng sản Việt Nam và chỉ tốn hơn 1.200 tỷ đồng.

Thời điểm đó, hoạt động cho vay tiêu dùng phát triển manh mún, tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng chỉ vài năm sau, VPBank biến đây trở thành lĩnh vực thế mạnh. Thời điểm đỉnh cao, công ty này chiếm áp đảo 65% thị phần trên thị trường.

Tài chính tiêu dùng ra sau hút vốn ngoại
Thoát đáy khó khăn, tài chính tiêu dùng vẫn tiếp tục hút vốn ngoại.

Cho vay tiêu dùng có nhiều hoạt động đặc thù do dư nợ nhỏ, số lượng khách hàng lớn cùng vay tín chấp/không có tài sản đảm bảo. Khách hàng mục tiêu của công ty tài chính tiêu dùng đa phần là người có nhu cầu vay vốn để trả nợ hay phục vụ những nhu cầu cấp bách trong cuộc sống như: vay mua xe máy, điện thoại, điện máy... Bên cạnh đó, đối với hộ kinh doanh nhỏ lẻ khó tiếp cận vốn, tài chính tiêu dùng đáp ứng về vốn và giúp các hộ kinh doanh này quay vòng đồng vốn nhanh hơn để thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Theo Tổng cục Thống kê, đến hết năm 2024, lao động phi chính thức chiếm hơn 3/5 tổng số lao động có việc làm của cả nước, điều này cũng phản ánh rằng có một thị trường tiềm năng lớn về khách hàng dưới chuẩn của ngân hàng để các công ty tài chính tiêu dùng khai thác. Cùng với đó, số lượng người tiêu dùng sử dụng mạng và điện thoại thông minh ngày càng cao cũng là cơ hội để phát triển các sản phẩm vay online, các sản phẩm mua trước trả sau.

Hứa hẹn triển vọng phục hồi

Việt Nam có 16 công ty tài chính được NHNN cấp phép đang hoạt động song một số công ty tài chính chiếm tỷ trọng lớn về tổng tài sản có thể kể đến như: FE Credit, HD Saison, MCredit... Đà tăng trưởng cho vay của các công ty tài chính tiêu dùng hàng đầu thể hiện rõ trong năm 2024.

Cụ thể, tăng trưởng tín dụng của MCredit vào cuối tháng 9/2024 đạt 14,4% so với đầu năm nhờ mức nền thấp năm 2023 và tận dụng lợi thế từ các cổ đông lớn là MBBank và Shinsei Group. FE Credit và HD Saison cũng tăng trưởng khả quan sau năm 2023 đi lùi. Theo đó, HD Saison ghi nhận tăng trưởng tín dụng 7,3% so với 2023 nhờ phân khúc cho vay xe máy hiện chiếm 36% thị phần.

Ngược lại, công ty tiêu dùng lớn nhất - FE Credit lại tăng trưởng cho vay đi ngang so với năm 2023 do tái cấu trúc mô hình kinh doanh, tập trung vào các phân khúc khách hàng ít rủi ro, đặc biệt là công nhân tại các khu công nghiệp, để giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu.

Thoát đáy khó khăn, tài chính tiêu dùng vẫn tiếp tục hút vốn ngoại
Nợ xấu ở mức cao tại nhiều công ty tài chính tiêu dùng song biên lãi ròng NIM ở mức cao, từ 15-30%.

Đánh giá về sự chuyển động về tín dụng tiêu dùng tại các doanh nghiệp, Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap cho rằng, FE Credit sẽ hướng tới một mô hình kinh doanh thận trọng hơn trong tương lai sau khi tăng trưởng mạnh mẽ để giành thị phần trong quá khứ. Mặc dù dư nợ cho vay của FE Credit gần như bằng mức cuối năm 2023, nhưng giải ngân mới tăng 42% cùng kỳ trong 9 tháng 2024.

FE Credit hiện vẫn là công ty lớn nhất trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng Việt Nam về dư nợ cho vay với thị phần khoảng 29%, song giảm so với mức 44% vào năm 2020.

Trong khi đó, MCredit có thể vươn lên vị trí thứ hai về thị phần cho vay khi đưa ra lãi suất cho vay cạnh tranh hơn để giành thị phần. Đây là công ty duy nhất trong số các công ty hàng đầu có thể tăng trưởng dư nợ cho vay một cách ổn định từ mức nền thấp kể từ năm 2021 và tăng trưởng cho vay 12% trong 9 tháng 2024. Sở dĩ MCredit giữ tốc độ tăng trưởng khả quan, Chứng khoán Vietcap cho rằng, công ty tận dụng mạng lưới trên toàn quốc của MB Group và Viettel Group và chiến lược tập trung vào phân khúc thẻ cũng như hợp tác với các nền tảng thương mại điện tử để thúc đẩy cho vay tiêu dùng.

Với HD Saison, dư nợ cho vay của công ty này tăng 7% trong 9 tháng 2024 với giải ngân mới tăng 15% cùng kỳ.

Đánh giá về triển vọng tín dụng tiêu dùng năm 2025, theo Chứng khoán Vietcap, nhờ mặt bằng lãi suất thấp hơn và sự phục hồi của nền kinh tế sẽ giúp cải thiện nhu cầu tín dụng và khả năng trả nợ, do đó hỗ trợ biên lãi ròng (NIM) các doanh nghiệp tăng trong năm 2025.

"FE Credit và HD Saison sẽ tăng trưởng dư nợ cho vay lần lượt là 8% cùng kỳ và 12% cùng kỳ, trong khi tỷ lệ xử lý nợ có thể vẫn ở mức tương đối cao" - nhóm phân tích Chứng khoán Vietcap dự báo./.

Nợ xấu dự báo giảm nhiệt

Bên cạnh những tiềm năng và thuận lợi, sự phát triển của thị trường tín dụng tiêu dùng cũng phải đối mặt với không ít thách thức khi nhiều công ty tín dụng tiêu dùng gia tăng nợ xấu.

Chứng khoán Vietcap dự báo tỷ lệ nợ xấu của các công ty tài chính tiêu dùng sẽ dần được cải thiện trong giai đoạn 2024 - 2025 nhờ tăng trưởng doanh thu mạnh mẽ hơn, quy trình thẩm định tín dụng được nâng cao và các hoạt động kinh tế được cải thiện cũng như nền lãi suất tương đối thấp hỗ trợ khả năng trả nợ của khách hàng của các công ty này./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 32.000 tỷ đồng, tăng trưởng 9,2%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh quý II năm 2026 (trước soát xét), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 6 tháng đạt 32.004 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; HOSE: HDB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với ba dấu mốc nổi bật: gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế vượt 13.200 tỷ đồng với ROE đạt 25,4% thuộc nhóm cao nhất toàn ngành; đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường vốn quốc tế thông qua khoản vay hợp vốn Social Loan trị giá 721 triệu USD và lần đầu tiên được Fitch Ratings xếp hạng tín nhiệm BB-, thuộc nhóm cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam.
HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

(TBTCO) - Khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD mà HDBank ký kết ngày 30/7 đã thiết lập một dấu mốc mới trên thị trường vốn Việt Nam. Đây là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay do một tổ chức Việt Nam huy động thành công, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với HDBank và triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Hanoi Re  - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

Hanoi Re - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

(TBTCO) - Có thể đánh giá, việc PVI tái cấu trúc năm 2011 theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một quyết định chiến lược đúng đắn, tạo nền tảng để PVI chuyển từ một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thành định chế tài chính - bảo hiểm hoạt động theo mô hình đa trụ cột chuyên nghiệp.
Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - HOSE: EIB) công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 678,5 tỷ đồng sau khi đã trích đầy đủ dự phòng theo quy định, hoàn thành gần 45% kế hoạch năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

(TBTCO) - Đánh giá thị trường vàng, đá quý vừa qua diễn biến phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của người dân, đại biểu Quốc hội Tô Ái Vang đề nghị Quốc hội giám sát làm rõ trách nhiệm về quản lý thị trường vàng, từ đó làm căn cứ hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng khung xử phạt với các hành vi làm giả vàng, đá quý.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Hà Nội - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Miền Tây - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
NL 99.99 13,000 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲50K
Trang sức 99.9 13,380 ▲20K 14,080 ▲20K
Trang sức 99.99 13,390 ▲20K 14,090 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,379 ▲2K 14,192 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,379 ▲2K 14,193 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 ▲2K 1,414 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 ▲2K 1,415 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,344 ▲2K 1,394 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,102 ▼117720K 13,802 ▼124020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,491 ▲15K 10,471 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,151 ▲136K 94,951 ▲136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,393 ▲67866K 85,193 ▲76686K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,628 ▲116K 81,428 ▲116K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,486 ▲84K 58,286 ▲84K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Cập nhật: 31/07/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17944 18218 18803
CAD 18216 18492 19113
CHF 31842 32223 32871
CNY 0 3853 3946
EUR 29604 29825 30909
GBP 34536 34928 35869
HKD 0 3221 3424
JPY 157 161 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15126 15717
SGD 19944 20226 20799
THB 702 765 819
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26105 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/07/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80