Tiền thưởng công chức, viên chức thực hiện thế nào?

(TBTCO) - Ngoài mức lương chi trả hàng tháng, công chức, viên chức còn có thể được nhận mức tiền thưởng hàng năm. Mức thưởng này không nhất thiết phải gắn với mức lương theo hệ số lương của từng người.
aa
Trình tự phê duyệt, giao biên chế công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập của địa phương - Ảnh 1.
Chế độ tiền thưởng của công chức, viên chức dựa trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm. Ảnh tư liệu

Đối tượng được hưởng tiền thưởng?

Chế độ tiền thưởng của công chức, viên chức dựa trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm. Các đối tượng được quy định trong Nghị định số 73/2024 của Chính phủ như sau: Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp huyện; cán bộ, công chức cấp xã; viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Luật Viên chức.

Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Chính phủ đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 45/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc công an nhân dân; người làm việc trong tổ chức cơ yếu.

Chế độ tiền thưởng quy định trên được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hàng năm theo kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành công việc của từng người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị.

Người đứng đầu đơn vị lực lượng vũ trang theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm xây dựng Quy chế cụ thể để thực hiện chế độ tiền thưởng áp dụng đối với các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị;

Đồng thời, gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để quản lý, kiểm tra và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị.

Chế độ tiền thưởng

Nghị định số 73/2024 quy định chế độ tiền thưởng của công chức, viên chức thực hiện trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm.

Chế độ tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hàng năm theo kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành công việc của từng người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm xây dựng quy chế cụ thể để thực hiện chế độ tiền thưởng áp dụng đối với các đối tượng trong danh sách trả lương của cơ quan, đơn vị và gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để quản lý, kiểm tra và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị.

Bộ Nội vụ cũng đã ban hành một số nội dung cần lưu ý khi thực hiện chế độ tiền thưởng đối với công chức, viên chức.

Theo đó, trong quá trình triển khai thực hiện chế độ tiền thưởng, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý hoặc được phân cấp thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện xây dựng quy chế tiền thưởng của cơ quan, đơn vị theo đúng quy định khoản 3 Điều 4 Nghị định số 73/2024.

Quy định tiêu chí thưởng theo thành tích công tác đột xuất (thể hiện bằng sản phẩm, kết quả cụ thể) và tiêu chí thưởng theo kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của người hưởng lương trong cơ quan, đơn vị;

Mức tiền đối với trường hợp thưởng theo thành tích công tác đột xuất và trường hợp thưởng theo kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm không nhất thiết phải gắn với mức lương theo hệ số lương của từng người;

Về quy trình, thủ tục xét thưởng đề nghị phân loại theo 2 nội dung thực hiện, gồm tiền thưởng trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và tiền thưởng trên cơ sở kết quả đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm.

Hà Linh (tổng hợp)

Đọc thêm

Hàng hóa được ủy thác xuất khẩu nhưng tiêu thụ trong nước, phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

Hàng hóa được ủy thác xuất khẩu nhưng tiêu thụ trong nước, phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 136/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 của Thông tư số 158/2025/TT-BTC và Nghị định số 360/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt. Theo đó, hàng hóa được ủy thác xuất khẩu nhưng không xuất khẩu, mà tiêu thụ trong nước, thì phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026.
Bộ Tài chính sửa đổi quy định về giá và sản lượng tính thuế tài nguyên

Bộ Tài chính sửa đổi quy định về giá và sản lượng tính thuế tài nguyên

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 135/2026/TT-BTC (Thông tư 135) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 2/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 41/2024/TT-BTC.
Tự chủ hơn về kế toán, gắn với trách nhiệm và tính minh bạch

Tự chủ hơn về kế toán, gắn với trách nhiệm và tính minh bạch

(TBTCO) - Bắt đầu áp dụng từ năm tài chính 2026, Thông tư số 99/2025/TT-BTC mở rộng quyền chủ động của doanh nghiệp trong tổ chức công tác kế toán. Đi cùng với đó là yêu cầu phân định trách nhiệm đến từng bộ phận, cá nhân nhằm nâng chất lượng dữ liệu đầu vào và báo cáo tài chính.
Doanh nghiệp FDI hiến kế thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW

Doanh nghiệp FDI hiến kế thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW

(TBTCO) - Cộng đồng doanh nghiệp FDI đề xuất Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế minh bạch, nhất quán; tăng cường đối thoại, hỗ trợ nhà đầu tư hiện hữu và thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp trong nước để Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhanh chóng đi vào thực tiễn.
Nghị quyết số 10-NQ/TW mở hướng nâng chất dòng vốn FDI từ châu Âu

Nghị quyết số 10-NQ/TW mở hướng nâng chất dòng vốn FDI từ châu Âu

(TBTCO) - Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt trọng tâm vào chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng của FDI, đồng thời tạo dư địa để doanh nghiệp châu Âu tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế Việt Nam.
Quy định về nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia

Quy định về nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 345/2026/NĐ-CP ngày 4/9/2026 quy định chi tiết một số điều, biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về dự trữ quốc gia và quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia.
Danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia do Bộ Tài chính trực tiếp quản lý

Danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia do Bộ Tài chính trực tiếp quản lý

(TBTCO) - Ngày 4/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận đã ký ban hành Thông tư số 131/2026/TT-BTC quy định về danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia do Bộ Tài chính trực tiếp quản lý.
Chính phủ ban hành quy định mới nhất về quản lý và sử dụng hàng dự trữ quốc gia

Chính phủ ban hành quy định mới nhất về quản lý và sử dụng hàng dự trữ quốc gia

(TBTCO) - Ngày 4/9/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã ký ban hành Nghị định số 345/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều, biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về dự trữ quốc gia (DTQG) và quản lý, sử dụng hàng DTQG.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều