Tiếp tục chi trả hỗ trợ người lao động từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

Hoàng Yến
(TBTCO) - Chiều 11/8, sau khi xem xét, thảo luận, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhất trí ban hành nghị quyết cho phép tiếp tục chi trả hỗ trợ đối với người lao động theo Nghị quyết số 3/2021/UBTVQH15 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.
aa
Bảo hiểm xã hội đã chi trên 45.444 tỷ đồng hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp Thủ tướng chỉ đạo đẩy nhanh hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động Đề xuất gia hạn hỗ trợ người lao động từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp 1.155 tỷ đồng

Tiếp tục chi trả 1.155 tỷ đồng cho hơn 414.000 người lao động

Trước đó, tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, về chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động, tính đến 31/7/2022 đã hoàn thành xong việc xác định số giảm đóng cho 346.806 đơn vị, tương ứng 11,785 triệu lao động với số tiền được điều chỉnh giảm đóng bảo hiểm thất nghiệp khoảng 7.560 tỷ đồng. Dự kiến đến hết tháng 9/2022, số tiền giảm đóng vào Qũy Bảo hiểm thất nghiệp khoảng 9.104 tỷ đồng.

Nghị quyết của UBTVQH cho phép sử dụng khoảng 1.155 tỷ đồng từ kết dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đến hết năm 2021 để tiếp tục chi trả hỗ trợ đối với người lao động thuộc đối tượng hưởng theo Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 ngày 24/9/2021 đã nộp hồ sơ đúng thời hạn.

Thời gian thực hiện chi trả hỗ trợ người lao động hoàn thành chậm nhất vào ngày 10/9/2022. UBTVQH giao Chính phủ triển khai thực hiện việc chi trả đúng thời hạn và báo cáo UBTVQH kết quả thực hiện Nghị quyết số 03/2021/UBTVQH15 và Nghị quyết này tại Phiên họp tháng 9/2022 của UBTVQH.

Về hỗ trợ người lao động, đã tiếp nhận hồ sơ đề nghị hỗ trợ theo đúng thời hạn quy định, tính đến 31/12/2021 đã chi trả cho 12,968 triệu lao động thuộc đối tượng hỗ trợ, không có sai sót về hồ sơ với tổng số tiền chi trả là 30.804 tỷ đồng.

Trong quá trình đánh giá tác động chính sách, dự báo đối tượng thụ hưởng và dự tính số tiền thực tế chi trả cho người lao động chưa sát thực tế. Do đó khi triển khai chính sách, số tiền thực tế chi trả hỗ trợ lên tới 30.804 tỷ đồng (Nghị quyết 03/2021/UBTVQH15 cho phép sử dụng khoảng 30.000 tỷ đồng từ kết dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp để hỗ trợ người lao động). Đồng thời, cũng vẫn còn số lao động thuộc đối tượng thụ hưởng của Nghị quyết 03 chưa được chi trả, với số tiền dự kiến khoảng 1.155 tỷ đồng (cho hơn 414 nghìn lao động thuộc đối tượng hỗ trợ đã nộp hồ sơ đề nghị đúng hạn).

Do đó, Chính phủ đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho phép kéo dài thời hạn thực hiện Nghị quyết 03 với nội dung cho phép tiếp tục chi trả số tiền hỗ trợ này, thời hạn thực hiện chi trả là 1 tháng.

Đào Ngọc Dung
Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung

Báo cáo của Chính phủ cũng cho hay, kết dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đến ngày 31/12/2021 là 61.459 tỷ đồng. Nếu tiếp tục chi trả cho người lao động theo đề nghị với số tiền khoảng 1.155 tỷ đồng thì dự kiến tổng chi bảo hiểm thất nghiệp năm 2022 là 26.740 tỷ đồng, kết dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp vẫn đảm bảo an toàn vì vẫn cao hơn 2 lần tổng chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp năm 2021 (số chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp và chi phí quản lý năm 2021 là 18.000 tỷ đồng, chưa bao gồm kinh phí dự kiến hỗ trợ cho người lao động và sử dụng lao động theo Nghị quyết 03).

Chính sách hỗ trợ nhanh, trúng và cần thiết

Tại báo cáo thẩm tra, Ủy ban Xã hội nhất trí với đề xuất của Chính phủ vì thấy rằng, đây là kết hợp giữa quyền lợi đóng - hưởng của người lao động khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp và hỗ trợ trong bối cảnh đặc biệt do tác động của đại dịch Covid-19, sự vướng mắc trong việc triển khai thực hiện chính sách của các cơ quan có liên quan, không phải lỗi từ phía người lao động.

Tuy nhiên, theo Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội Nguyễn Thị Thúy Anh, việc chưa chi trả đối với những trường hợp đã được xét duyệt và những người lao động thuộc đối tượng hỗ trợ đã nộp hồ sơ đúng hạn theo hướng dẫn nhưng chưa được các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt đã tạo dư luận không tốt, gây mất niềm tin của người lao động, giảm ý nghĩa của chính sách, gây ra áp lực rất lớn cho các cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp giải quyết chế độ và cơ quan bảo hiểm xã hội tại địa phương.

Chủ tịch Quốc hội
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu bế mạc phiên họp

Thảo luận về nội dung này, đa số các Ủy viên UBTVQH thống nhất với đề xuất của Chính phủ về việc tiếp tục chi trả hỗ trợ đối với người lao động và ghi nhận sự nỗ lực, quyết tâm cao của Chính phủ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cùng các bộ, ngành liên quan đã chủ động, nỗ lực, kịp thời triển khai thực hiện bảo đảm minh bạch, đúng mục đích, nguyên tắc hỗ trợ của Nghị quyết 03.

Theo Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đánh giá, nghị quyết này là một trong những nghị quyết mà UBTVQH đã cùng với Chính phủ làm rất nhanh, trúng và cần thiết. Giá trị lượng tiền khá lớn nhưng tính khả thi cao, vào cuộc sống rất nhanh, không chỉ tác động trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động mà còn góp phần hỗ trợ nền kinh tế rất tốt trong giai đoạn đó.

Bên cạnh đó, các ý kiến cũng đề nghị, Chính phủ cần nghiêm túc rút kinh nghiệm để làm tốt hơn công tác theo dõi, quản lý danh sách, cơ sở dữ liệu, công tác dự báo và kết nối thông tin trong việc đề xuất ban hành chính sách.

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng, Chính phủ cần làm rõ thêm số đã nộp hồ sơ đến hết thời hạn này đã bao gồm hết tất cả các đối tượng chưa, đặc biệt là liên quan đến đối tượng làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập không hưởng hay hưởng một phần chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước.

Bế mạc phiên họp thứ 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Sau khi cho ý kiến về nội dung này, UBTVQH đã bế mạc phiên họp thứ 14. Phát biểu bế mạc phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, sau khi hoàn thành các nội dung của phiên họp thứ 14, tuần sau từ 15 đến hết 18/8, UBTVQH sẽ họp phiên chuyên đề về xây dựng pháp luật. Đây là một nội dung hết sức quan trọng để chuẩn bị cho các phiên họp của đại biểu chuyên trách và tiến tới kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XV.

Vì vậy, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các cơ quan của Quốc hội theo nhiệm vụ đã được giao khẩn trương phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan trình. “Lần này chúng ta trình tất cả đến 14 dự án luật, cả biểu quyết thông qua và cả cho ý kiến lần đầu, chưa kể một số nghị quyết có tính chất như luật, rất nhiều nội dung”, Chủ tịch Quốc hội lưu ý.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 21/09/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 21/09/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30