Thị trường tiền tệ tuần 5/8 - 9/8:

Tín dụng tăng tốc để đạt mục tiêu, giá vàng miếng SJC tiếp tục điều chỉnh giảm

Mai Tấn
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý tuần qua là Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước điều hành tăng trưởng tín dụng năm nay đạt khoảng 15%, tập trung cho các động lực tăng trưởng truyền thống và động lực tăng trưởng mới. Còn thị trường tiền tệ tuần qua ghi nhận sự điều chỉnh giảm giá vàng miếng bán ra của các ngân hàng thương mại, trong khi đó tỷ giá giảm nhẹ đầu tuần sau đó tăng mạnh vào cuối tuần.
aa

Nỗ lực đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024

Mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và một số bộ, ngành liên quan về việc điều hành chính sách tiền tệ.

Thủ tướng đánh giá, tình hình thực tiễn thời gian qua cho thấy định hướng từ đầu năm của Chính phủ về "chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả" là cơ bản phù hợp và được NHNN tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức, kết hợp hài hòa với các chính sách khác về tài khóa, thương mại, đầu tư, bất động sản… góp phần để cơ bản thực hiện được mục tiêu đã đề ra về ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng cả 3 khu vực, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm và có thặng dư.

Tại cuộc họp, Thủ tướng yêu cầu NHNN điều hành tăng trưởng tín dụng năm nay đạt khoảng 15%, tập trung cho các động lực tăng trưởng truyền thống và động lực tăng trưởng mới. Điều hành tín dụng phù hợp diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, thu hồi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng từ tổ chức tín dụng không sử dụng hết và bổ sung cho các tổ chức tín dụng có khả năng tăng trưởng. Các gói tín dụng khuyến khích cho các động lực tăng trưởng hay các vấn đề lớn của quốc gia thì cần mở rộng khi có hiệu quả. Mặt khác, tiếp tục theo dõi, đôn đốc các tổ chức tín dụng quyết liệt triển khai các chương trình ưu đãi.

Tín dụng tăng tốc để đạt mục tiêu, giá vàng miếng SJC tiếp tục điều chỉnh giảm
Thủ tướng Phạm Minh Chính làm việc với lãnh đạo NHNN và lãnh đạo một số bộ, ngành về điều hành chính sách tiền tệ. Ảnh: Chính phủ.vn

Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống phục hồi từ cuối tháng 3 và tăng dần qua các tháng, cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm 2023, đến hết quý II/2024 đạt 6%. Đến cuối tháng 7 vừa qua, dư nợ tín dụng gần 14,33 triệu tỷ đồng, tăng 5,66% so với cuối năm 2023.

Trước đó, theo thông báo của NHNN, tín dụng tính tới cuối tháng 5/2024 mới đạt 2,41%. Như vậy, chỉ riêng trong tháng 6, tín dụng đã tăng 3,59%. Điều đó cho thấy, dù tăng trưởng dư nợ toàn nền kinh tế tăng tốc trong tháng 6, nhưng sang tháng 7 tín dụng quay đầu giảm.

Hiện nay số tiền mà người dân gửi tại ngân hàng đạt khoảng trên 15 triệu tỷ đồng. Theo tính toán, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng mà NHNN đặt ra cho cả năm nay là khoảng 15%, trong 5 tháng cuối năm 2024, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng phải tăng trưởng đạt tốc độ bình quân khoảng 1,86%/tháng. Tương đương, mỗi tháng sẽ có hơn 250.000 tỷ đồng cần được đưa ra nền kinh tế. Đây là một thách thức không hề nhỏ đối với hệ thống ngành ngân hàng.

NHNN khẳng định, cơ quan này đã có nhiều giải pháp để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận tín dụng ngân hàng, phục hồi sản xuất, kinh doanh. Đáng chú ý, theo NHNN, lãi suất với các khoản vay và tiết kiệm tiếp tục giảm. Tính đến cuối tháng 6/2024, lãi suất cho vay bình quân ở mức 8,3% một năm, giảm 0,96% so cuối năm ngoái.

Giá vàng miếng SJC điều chỉnh giảm

Tuần qua ghi nhận sự điều chỉnh giảm giá bán vàng miếng của NHNN cho các ngân hàng thương mại và Công ty SJC. Cụ thể hôm 6/8, NHNN cho biết, căn cứ phương án bán vàng miếng SJC trực tiếp cho 4 ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC đã được Thống đốc phê duyệt, giá bán vàng miếng trực tiếp ngày 6/8/2024 là 78 triệu đồng/lượng, sau đó ngày 8/8 NHNN tiếp tục điều chỉnh giá bán vàng miếng là 77,5 triệu đồng/lượng. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại và Công ty SJC bán vàng miếng SJC ra thị trường ở mức giá phổ biến là 78,5 triệu đồng/lượng.

Với hai lần điều chỉnh giá bán như trên, giá vàng miếng SJC đã giảm 1,3 triệu đồng mỗi lượng so với lần điều chỉnh giá gần nhất vào tuần trước.

Tín dụng tăng tốc để đạt mục tiêu, giá vàng miếng SJC tiếp tục điều chỉnh giảm
Giá vàng miếng SJC điều chỉnh giảm. Ảnh: T.L
Giá vàng quốc tế ít biến động

Trên thị trường quốc tế, giá vàng ít biến động chỉ tăng nhẹ sau khi tăng mạnh vào tuần trước đó. Đến thời điểm ngày 9/8, giá vàng thế giới ghi nhận mức 2.427,42 USD/ounce tăng nhẹ so với mốc 2.441,74 USD/ounce đầu tuần.

Tuần trước, NHNN đã có 2 lần điều chỉnh giá vàng miếng SJC vào hôm 30/7 và 1/8. Cụ thể, trong ngày 30/7, giá bán vàng miếng trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước là 78 triệu đồng/lượng, giảm 500.000 đồng/lượng. Sau đó, trong ngày 1/8 giá bán vàng miếng trực tiếp của NHNN là 78,8 triệu đồng/lượng, tăng 800.000 đồng/lượng.

NHNN cho biết sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình thu hẹp và kiểm soát chênh lệch giữa giá bán vàng miếng SJC trong nước và giá thế giới ở mức phù hợp. Tuy nhiên, đây cũng là các giải pháp trước mắt và NHNN tiếp tục cùng các cơ quan chức năng nghiên cứu các chính sách hợp lý trong thời gian tới để quản lý thị trường.

Tỷ giá biến động mạnh vào cuối tuần

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 5/8 ghi nhận ở mức 24.242 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giản nhẹ trong hai ngày thứ Ba và thứ Tư trước khi tăng mạnh vào hôm thứ Năm và thứ Sáu cuối tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.62 đồng/USD, tăng 20 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 25.380 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục giảm tỷ giá bán ra trong hôm thứ Ba, nhưng tăng liên tục trong hôm thứ Tư và thứ Năm và điều chỉnh giảm vào hôm thứ Sáu. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.320 đồng/USD, giảm 60 đồng/USD so với hôm đầu tuần./.

Chỉ số DXY biến động trong biên độ hẹp

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu hướng giảm vào những ngày giữa tuần, nhưng sau đó tăng vào cuối tuần. Tại thời điểm chiều ngày 9/8 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 103,18 điểm, giảm nhẹ so với mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
Giá vàng hôm nay ngày 31/3: Giá vàng đồng loạt tăng, tiến sát mốc 174 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 31/3: Giá vàng đồng loạt tăng, tiến sát mốc 174 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 31/3 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến quanh 1 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn hiện giao dịch chủ yếu trong vùng 170,7 - 173,8 triệu đồng/lượng.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

VietinBank triển khai gói ưu đãi lớn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ

(TBTCO) - Chương trình “SME Global Boost” của VietinBank mang đến loạt ưu đãi phí giao dịch ngoại tệ và tài trợ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thương mại quốc tế nhiều biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 17,380
Kim TT/AVPL 17,090 17,390
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 17,380
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 17,340
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 17,290
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 17,270
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 173,800
Hà Nội - PNJ 170,800 173,800
Đà Nẵng - PNJ 170,800 173,800
Miền Tây - PNJ 170,800 173,800
Tây Nguyên - PNJ 170,800 173,800
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 173,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲120K 17,500 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲120K 17,500 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲120K 17,500 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲120K 17,500 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲120K 17,500 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲120K 17,500 ▲120K
NL 99.90 15,820 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▲50K
Trang sức 99.9 16,690 ▲120K 17,390 ▲120K
Trang sức 99.99 16,700 ▲120K 17,400 ▲120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 172 ▼1536K 17,502 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 172 ▼1536K 17,503 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,718 ▲12K 1,748 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,718 ▲12K 1,749 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,698 ▲12K 1,733 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,084 ▲1188K 171,584 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,238 ▲900K 130,138 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,106 ▲98277K 118,006 ▲106287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,974 ▲733K 105,874 ▲733K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,294 ▲700K 101,194 ▲700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,523 ▲500K 72,423 ▲500K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1536K 175 ▼1563K
Cập nhật: 31/03/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17511 17784 18360
CAD 18385 18662 19278
CHF 32263 32646 33304
CNY 0 3470 3830
EUR 29538 29809 30840
GBP 33939 34329 35267
HKD 0 3230 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14731 15319
SGD 19854 20136 20665
THB 717 780 833
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,698 29,722 30,954
JPY 160.15 160.44 169.08
GBP 34,122 34,214 35,185
AUD 17,712 17,776 18,339
CAD 18,548 18,608 19,179
CHF 32,542 32,643 33,408
SGD 19,954 20,016 20,684
CNY - 3,774 3,891
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 15.89 16.57 17.91
THB 765.55 775 824.17
NZD 14,731 14,868 15,212
SEK - 2,710 2,789
DKK - 3,975 4,090
NOK - 2,657 2,735
LAK - 0.92 1.28
MYR 6,093.01 - 6,836.31
TWD 740.71 - 891.81
SAR - 6,895.53 7,218.76
KWD - 83,467 88,265
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17709 17809 18737
CAD 18564 18664 19680
CHF 32563 32593 34184
CNY 3750.4 3775.4 3911
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29776 29806 31534
GBP 34267 34317 36081
HKD 0 3355 0
JPY 161.18 161.68 172.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14864 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20013 20143 20875
THB 0 747.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17500000
SBJ 15000000 15000000 17500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80