Tín dụng vào chứng khoán chưa “nóng”

Hoàng Yến
(TBTCVN) - Tổng mức cho vay chứng khoán đến hết quý I/2021 ước khoảng 45.300 tỷ đồng, chiếm 0,5% tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế, đây là tỷ lệ không quá cao.
aa

ngan

Tính đến ngày 16/4/2021, tín dụng tăng 15,02% so với cùng kỳ năm 2020.

Tuy nhiên, do đây là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng kiểm soát chặt chẽ dòng tiền vào lĩnh vực này. Đây là thông tin Ngân hàng Nhà nước cho biết tại cuộc họp báo thông tin về kết quả hoạt động ngân hàng quý I/2021 diễn ra chiều 22/4.

Tín dụng bất động sản chiếm gần 20% tổng dư nợ nền kinh tế

Tại cuộc họp báo, ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, tính đến ngày 16/4/2021, tín dụng tăng 3,34% so với cuối năm 2020, tăng 15,02% so với cùng kỳ năm 2020. Tổng phương tiện thanh toán M2 tăng 2,90% so với cuối năm 2020 và tăng 15,66% so với cùng kỳ 2020. Hiện mặt bằng lãi suất huy động và cho vay giảm nhẹ khoảng 0,1% so với cuối năm 2020.

Về tỷ giá, tính đến ngày 16/4, tỷ giá trung tâm ở mức 23.196 VND/USD, tăng 0,28% so với cuối năm 2020; tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng quanh mức 23.070 VND/USD, giảm 0,09% so với cuối năm 2020; tỷ giá mua, bán VND/USD niêm yết của VCB ở mức 22.980/23.160 VND/USD, giảm 0,24% so với cuối năm 2020.

Nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát, căn cứ mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát do Quốc hội và Chính phủ đặt ra, NHNN xây dựng chỉ tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng toàn ngành khoảng 12%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.

Báo cáo cụ thể hơn về tình hình tín dụng, ông Nguyễn Tuấn Anh, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho hay, tín dụng toàn nền kinh tế tính đến 16/4 đạt 9.499.546 tỷ đồng, tăng 3,34% so với cuối năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng 0,78%). Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, hỗ trợ tích cực quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản, công nghiệp hỗ trợ, hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, báo cáo của NHNN cho thấy tính đến 28/2/2021, tổng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản đạt 1.835.504 tỷ đồng, tăng 2,13% so với cuối năm 2020 cao hơn tỷ lệ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế cùng thời điểm (0,67%), tỷ lệ nợ xấu là 1,8%. Tỷ trọng tín dụng bất động sản chiếm 19,83% trong tổng dư nợ nền kinh tế.

Trong đó, dư nợ tín dụng đầu tư kinh doanh bất động sản đạt 651.631 tỷ đồng, tăng 2,82% so với 31/12/2020, chiếm tỷ trọng 35,5% dư nợ tín dụng lĩnh vực bất động sản và chiếm tỷ trọng 7,04% tổng dư nợ đối với nền kinh tế. Dư nợ tín dụng tiêu dùng/tự sử dụng bất động sản đạt 1.183.873 tỷ đồng, tăng 1,75% so với 31/12/2020, chiếm 64,5% dư nợ tín dụng lĩnh vực bất động sản, chiếm tỷ trọng 12,79% tổng dư nợ đối với nền kinh tế.

Cho vay chứng khoán đầu năm 2021 giảm gần 7%

Với lĩnh vực chứng khoán, tính đến 28/2/2021, dư nợ lĩnh vực chứng khoán là 42.590 tỷ đồng, giảm 6,98% so với cuối năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 giảm 3,41%), chiếm tỷ trọng 0,46% tổng dư nợ nền kinh tế. Theo thời hạn, dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng chủ yếu là 96,21%. Theo nhu cầu vốn, dư nợ đầu tư kinh doanh chứng khoán khác chiếm tỷ trọng cao nhất là 70,54%, dư nợ đầu tư kinh doanh cổ phiếu chiếm tỷ trọng cao thứ 2 với 26,93%. Theo nhóm ngân hàng, dư nợ chứng khoán tập trung chủ yếu ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước, chiếm 43,47%, và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần khác chiếm 48,42%.

Về dư nợ với các loại hình kinh tế, NHNN cho biết dư nợ tín dụng doanh nghiệp nhà nước đạt 455.000 tỷ đồng, giảm 0,99% so với cuối năm 2020, chiếm tỷ trọng 4,92% tổng dư nợ nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 3,85%, chiếm tỷ trọng 5%). Dư nợ tín dụng doanh nghiệp tư nhân đạt 4.178.429 tỷ đồng, tăng 1,38%, chiếm tỷ trọng 45,16% tổng dư nợ nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 15,26%, chiếm tỷ trọng 44,84%). Dư nợ tín dụng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 343.521 tỷ đồng, tăng 0,42% so với cuối năm 2020, chiếm tỷ trọng 3,71% tổng dư nợ nền kinh tế. Dư nợ tín dụng đối với hộ kinh doanh, cá nhân đạt 4.171.604 tỷ đồng, tăng 0,19% so với cuối năm 2020, chiếm tỷ trọng 45,08% tổng dư nợ nền kinh tế (cuối năm 2020 tăng 11,1%, chiếm tỷ trọng 45,29%).

Báo cáo thêm về tín dụng với một số lĩnh vực rủi ro như bất động sản, chứng khoán, ông Nguyễn Tuấn Anh cho biết tăng trưởng tín dụng vào bất động sản năm 2019 là 21,53%, năm 2020 là 11,89%, là mức thấp do tác động dịch Covid-19. Quý I năm nay, mức tăng tín dụng ước khoảng 3%, so với các quý đầu năm trước là không tăng đột biến (năm 2019 là hơn 5%). Như vậy, đại diện NHNN cho rằng tín dụng cho bất động sản không tăng đột biến.

Với chứng khoán, ước đến 31/3/2021, dư nợ lĩnh vực này khoảng 45.326 tỷ đồng, giảm khoảng 1% so với cuối năm 2020. Như vậy, với tỷ lệ chiếm khoảng 0,5% tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế, tín dụng cho chứng khoán không quá cao. Tuy nhiên, ông Nguyễn Tuấn Anh cũng khẳng định bất động sản, chứng khoán là những lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do vậy, thời gian sắp tới NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng kiểm soát chặt chẽ rủi ro trong các lĩnh vực này.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, dư nợ chứng khoán hiện tập trung ở một số tổ chức tín dụng là: VCB chiếm 25,75% tổng dư nợ chứng khoán toàn hệ thống, BIDV chiếm 13,47% tổng dư nợ chứng khoán toàn hệ thống, Techcombank chiếm 12,46% tổng dư nợ chứng khoán toàn hệ thống, TPBank chiếm 8,91% tổng dư nợ chứng khoán toàn hệ thống), VIB chiếm 5,25% tổng dư nợ chứng khoán toàn hệ thống, Vietinbank chiếm 4,25% tổng dư nợ chứng khoán toàn hệ thống, Maritime Bank chiếm 4,16% tổng dư nợ chứng khoán toàn hệ thống.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 24/4 ghi nhận diễn biến ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, mặt bằng giao dịch duy trì quanh vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

(TBTCO) - Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ và tích lũy tài chính ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Chubb - Tự Do An Phát.
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 22/04/2026, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đại hội đã thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kết quả hoạt động năm 2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026, với trọng tâm mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2023 – 2028, tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings (Moody’s) mới đây đã công bố nâng xếp hạng tín nhiệm Ba3, cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (FE CREDIT).
Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phương Đông (mã ck: OCB) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với những chuyển biến tích cực. Không chỉ ghi nhận sự tăng trưởng về quy mô và hiệu quả vận hành, cấu trúc thu nhập cũng cho thấy ngân hàng đang bước vào một chu kỳ phục hồi mang tính nền tảng.
Một kỷ lục vừa xác lập tại Đại hội đồng cổ đông ngân hàng Top 5 thương mại cổ phần tư nhân Việt Nam

Một kỷ lục vừa xác lập tại Đại hội đồng cổ đông ngân hàng Top 5 thương mại cổ phần tư nhân Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 22/4/2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026, thu hút gần 3.000 cổ đông trực tiếp tham dự - mức cao kỷ lục trong mùa đại hội ngân hàng năm nay. Con số ấn tượng này là minh chứng rõ nét cho thấy sức hút mạnh mẽ và niềm tin ngày càng bền chặt của cộng đồng nhà đầu tư đối với SHB.
Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 23/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức phổ biến 700.000 - 800.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi sâu về vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

(TBTCO) - Sáng ngày 23/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.103 VND/USD, USD tự do ổn định quanh 26.600 - 26.650 đồng, trong khi DXY hiện ở 98,57 điểm, cho thấy tín hiệu phục hồi sau nhịp giảm. Áp lực lạm phát toàn cầu vẫn hiện hữu khi giá năng lượng tăng mạnh tại Mỹ và lan rộng sang các nền kinh tế lớn, khiến kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn tiếp tục được củng cố.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,530 15,730
Nguyên Liệu 99.9 15,480 15,680
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,330 ▲60K 16,730 ▲60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,280 ▲60K 16,680 ▲60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,210 ▲60K 16,660 ▲60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Hà Nội - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Miền Tây - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 165,700 ▼300K 168,700 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
NL 99.90 15,400 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450 ▼50K
Trang sức 99.9 16,060 ▼50K 16,760 ▼50K
Trang sức 99.99 16,070 ▼50K 16,770 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 24/04/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18241 18517 19092
CAD 18686 18964 19577
CHF 32821 33206 33851
CNY 0 3813 3905
EUR 30136 30409 31435
GBP 34669 35061 35995
HKD 0 3231 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15103 15688
SGD 20066 20349 20866
THB 726 789 843
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,593 30,617 31,618
JPY 162.12 162.41 169.75
GBP 35,233 35,328 36,014
AUD 18,650 18,717 19,144
CAD 19,080 19,141 19,561
CHF 33,454 33,558 34,050
SGD 20,406 20,469 20,974
CNY - 3,827 3,916
HKD 3,331 3,341 3,431
KRW 16.57 17.28 18.53
THB 782.39 792.05 835.78
NZD 15,263 15,405 15,635
SEK - 2,829 2,887
DKK - 4,094 4,177
NOK - 2,805 2,863
LAK - 0.93 1.27
MYR 6,269.87 - 6,976.18
TWD 761.94 - 909.73
SAR - 6,979.6 7,245.98
KWD - 84,527 88,639
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26368
AUD 18414 18514 19437
CAD 18870 18970 19986
CHF 33076 33106 34689
CNY 3792.6 3817.6 3952.9
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30317 30347 32069
GBP 34958 35008 36765
HKD 0 3355 0
JPY 161.34 161.84 172.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15214 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20223 20353 21075
THB 0 755.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16620000 16620000 16870000
SBJ 15000000 15000000 16870000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,138 26,368
USD20 26,138 26,138 26,368
USD1 26,138 26,138 26,368
AUD 18,449 18,549 19,658
EUR 30,451 30,451 31,862
CAD 18,807 18,907 20,215
SGD 20,287 20,437 21,080
JPY 161.78 163.28 167.84
GBP 34,839 35,189 36,056
XAU 16,668,000 0 16,922,000
CNY 0 3,702 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/04/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80