Tín hiệu tích cực khi lãi suất trái phiếu chính phủ liên tục giảm

Chí Tín
(TBTCVN) - Thanh khoản dồi dào của hệ thống ngân hàng gần đây đã tạo thuận lợi cho Chính phủ huy động trái phiếu với lãi suất ngày càng thấp. Theo đó, trái phiếu chính phủ đang là kênh tham chiếu hiệu quả để chuẩn hóa các công cụ lãi suất, giúp thị trường tiền tệ phát triển lành mạnh.
aa

Trong tháng 8/2021, Kho bạc Nhà nước tổ chức 15 đợt đấu thầu trái phiếu chính phủ

Trong tháng 8/2021, Kho bạc Nhà nước tổ chức 15 đợt đấu thầu trái phiếu chính phủ, với tổng giá trị gọi thầu đạt 38.750 tỷ đồng.

Tín hiệu tích cực từ các phiên đấu thầu

Trong tháng 8/2021, Kho bạc Nhà nước tổ chức 15 đợt đấu thầu trái phiếu chính phủ, với tổng giá trị gọi thầu đạt 38.750 tỷ đồng. Tổng giá trị đặt thầu là 111.858 tỷ đồng, trong đó giá trị trúng thầu đạt 29,702 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ trúng thầu đạt 76,7%. Trong đó, 2 kỳ hạn có khối lượng gọi thầu cao nhất là kỳ hạn 10 năm và kỳ hạn 15 năm (lần lượt là 9.000 và 17.000 tỷ đồng), tỷ lệ trúng thầu lần lượt đạt 89,6% (kỳ hạn 10 năm) và 82,2% (kỳ hạn 15 năm). Lãi suất trúng thầu ở tất cả các kỳ hạn đều giảm so với tháng trước.

Những phiên đấu thầu gần đây, tỷ lệ trúng thầu đạt khá cao. Cụ thể phiên 8/9, Kho bạc Nhà nước tiến hành gọi thầu tổng cộng 9.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ ở các kỳ hạn 7 năm (1.000 tỷ đồng), 10 năm (3.000 tỷ đồng), 15 năm (4.500 tỷ đồng) và 30 năm (1.000 tỷ đồng). Khối lượng trúng thầu đạt 8.780 tỷ đồng (tương ứng tỷ lệ trúng thầu lên tới 92%), trong đó các kỳ hạn 7 năm, 10 năm, 15 năm có tỷ lệ trúng thầu đều đạt 100%. Lãi suất trúng thầu giảm ở các kỳ hạn 7 năm và 10 năm, giữ nguyên ở các kỳ hạn 15 năm và 30 năm.

Phiên đấu thầu ngày 15/9, 100% trái phiếu kỳ hạn 10 năm, 15 năm và 20 năm được bán hết. Kỳ hạn 10 năm có giá trị đặt thầu cao gần gấp 2 lần so với giá trị trái phiếu đưa ra gọi thầu, kỳ hạn 20 năm có giá trị đặt thầu cao gấp 3 lần giá trị gọi thầu.

Theo ông Phạm Thanh Hà - Vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ, thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, công tác phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đã được triển khai đồng bộ, qua đó hỗ trợ kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế trước những cú sốc bất lợi.

Trong chỉ đạo điều hành và điều tiết tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để duy trì thanh khoản hợp lý đối với hệ thống tổ chức tín dụng...

Diễn biến lãi suất trái phiếu chính phủ hiện đang ở mặt bằng thấp, đơn cử trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm chỉ còn 0,82%, 10 năm tiếp tục giảm sâu xuống chỉ còn 2,06%, kỳ hạn 15 năm chỉ còn 2,29%, kỳ hạn 20 năm là 2,8% tại ngày 15/9. Trung bình lãi suất trái phiếu chính phủ 8 tháng đầu năm 2021 tại 2,31%.

Theo thống kê của Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam, lãi suất giao dịch trái phiếu chính phủ đầu tháng 8 giảm 2 - 16 điểm so với trung bình tháng trước ở tất cả các kỳ hạn. So với mặt bằng lãi suất năm ngoái, lãi suất giao dịch các kỳ hạn từ 5 năm đến 30 năm hiện tại thấp hơn từ 51 - 102 điểm. Lãi suất trái phiếu chính phủ Việt Nam ở mức tương đối thấp trong khu vực. Khoảng cách giữa lợi suất trái phiếu chính phủ của Việt Nam và Mỹ từ đầu tháng 8/2021 tới nay có xu hướng thu hẹp từ 0,03% - 0,33% ở tất cả các kỳ hạn. Có những thời điểm, khoảng cách giữa lợi suất giao dịch trái phiếu chính phủ 5 năm của Việt Nam và Mỹ tiến về 0%.

Nền tảng phát triển các công cụ tiền tệ

Động thái thanh khoản cao cùng với lãi suất trái phiếu chính phủ liên tục giảm không những tạo điều kiện tốt cho Chính phủ huy động vốn giá rẻ phục vụ các nhu cầu chi tiêu công, mà còn đang trở thành nền tảng thuận lợi phục vụ cho các công cụ tiền tệ.

Ông Đỗ Ngọc Quỳnh - Tổng thư ký Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam cho biết, động thái phát hành và giao dịch đều đặn của thị trường trái phiếu chính phủ thời gian qua đã tạo một công cụ tốt để làm cơ sở tham chiếu lãi suất cho các công cụ tài chính khác. Theo đó, các sản phẩm tài chính tùy theo mức độ rủi ro sẽ có cơ sở để “định giá” mức lãi suất phù hợp, tùy theo thang bậc rủi ro và tính chất đặc thù của từng sản phẩm. Ngoài ra, khi các nền tảng cơ bản đã phát triển tốt thì các công cụ phái sinh lãi suất cũng có thể hình thành tạo sự phát triển đồng bộ và phong phú trên thị trường tiền tệ.

Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước cũng đang xây dựng dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2015/TT-NHNN ngày 6/1/2015 quy định hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Theo kế hoạch sửa đổi thông tư mới, ban soạn thảo dự kiến bổ sung thêm một số định nghĩa: ngày có hiệu lực của hợp đồng phái sinh lãi suất, thời hạn thực hiện hợp đồng phái sinh lãi suất, thanh toán ròng…; bổ sung một số nguyên tắc mà các ngân hàng phải tuân thủ khi thực hiện kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất.

Đặc biệt, dự thảo thông tư mới cũng dự kiến bổ sung đối tượng được thực hiện sản phẩm phái sinh lãi suất bao gồm nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trái phiếu chính phủ phát hành bằng đồng Việt Nam tại thị trường trong nước. Theo Ngân hàng Nhà nước, quy định này nhằm mục đích tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức đầu tư vào trái phiếu chính phủ trong nước được thực hiện các giao dịch phái sinh lãi suất.

Kho bạc Nhà nước sẽ gọi thầu 9.000 tỷ đồng trong tuần tới

Trong tuần tới, Kho bạc Nhà nước sẽ tiến hành gọi thầu 9.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, thời gian tổ chức đấu thầu dự kiến diễn ra ngày 22/9/2021.

Trái phiếu đưa ra gọi thầu lần này sẽ gồm các kỳ hạn 7 năm (1.000 tỷ đồng), 10 năm (2.500 tỷ đồng), 15 năm (3.000 tỷ đồng) và 30 năm (2.500 tỷ đồng).

Trong phiên đấu thầu gần đây nhất, khối lượng trúng thầu đạt 8.240 tỷ đồng. Trong đó, khối lượng trái phiếu trúng thầu kỳ hạn 5 năm là 616 tỷ đồng, 10 năm là 3.100 tỷ đồng, 15 năm là 3.024 tỷ đồng, 20 năm là 1.500 tỷ đồng.

Tính từ đầu năm tới nay, tổng giá trị phát hành của kỳ hạn 5, 7, 10, 15, 20 và 30 năm lần lượt là 19.848 tỷ đồng (đạt 99% kế hoạch năm), 5.231 tỷ đồng (đạt 35% kế hoạch năm), 101.904 tỷ đồng (đạt 85% kế hoạch năm), 72.925 tỷ đồng (đạt 54% kế hoạch năm), 9.580 tỷ đồng (đạt 32% kế hoạch năm), 17.238 tỷ đồng (đạt 57% kế hoạch năm).

Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước mở thêm dư địa tín dụng cho 25 ngân hàng, khi không tính phần dư nợ tăng thêm đối với nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng vào dư nợ bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026. Cơ chế này tiếp nối chính sách tương tự đã áp dụng với nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.
Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 16/09/2026, tại Hà Nội, Lễ ký kết Hợp tác chiến lược toàn diện giữa Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai (Xuân Mai Corp) và Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) - Chi nhánh Thăng Long và Chi nhánh Hà Nội đã diễn ra thành công tốt đẹp. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng, nâng tầm mối quan hệ hợp tác gắn bó suốt nhiều năm qua trở thành đối tác chiến lược sâu rộng, mở ra hành trình bứt phá mạnh mẽ cho cả hai bên trong tương lai.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 ▲1200K 147,000 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲120K 14,700 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,380 ▲100K 14,730 ▲100K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,040 ▲100K 14,640 ▲100K
Trang sức 99.99 14,050 ▲100K 14,650 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 ▲18K 14,762 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 ▲18K 14,763 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▲12K 1,466 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1257K 1,455 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,059 ▲1188K 144,059 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▲900K 109,286 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 893 ▼87591K 991 ▼97293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,114 ▲732K 88,914 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,185 ▲700K 84,985 ▲700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,103 ▼45426K 6,083 ▼54246K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cập nhật: 18/09/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18000 18275 18851
CAD 18064 18339 18954
CHF 30923 31300 31946
CNY 0 3840 3936
EUR 29235 29455 30533
GBP 33954 34343 35287
HKD 0 3184 3386
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14585 15173
SGD 19842 20124 20693
THB 697 760 813
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26187
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,279 29,302 30,610
JPY 161.37 161.66 171.43
GBP 34,152 34,244 35,431
AUD 18,192 18,258 18,947
CAD 18,232 18,291 18,966
CHF 31,156 31,253 32,174
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.34 18.08 19.67
THB 745.58 754.79 807.93
NZD 14,561 14,696 15,139
SEK - 2,607 2,699
DKK - 3,927 4,066
NOK - 2,711 2,809
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,954.26 - 6,722.28
TWD 738.6 - 894.84
SAR - 6,804.82 7,168.5
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26180
AUD 18150 18250 19175
CAD 18230 18330 19346
CHF 31116 31146 32719
CNY 3819.9 3844.9 3980.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29389 29419 31144
GBP 34223 34273 36025
HKD 0 3305 0
JPY 162.79 163.29 173.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14663 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19998 20128 20851
THB 0 726.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30