TP. Hải Phòng: Phát triển đô thị tiên tiến, sánh vai khu vực và thế giới

Tiến Dũng - Thế An
(TBTCO) - Với những tiềm năng, lợi thế và thành tựu kinh tế - xã hội vững vàng, kết hợp với sự đồng thuận, quyết tâm cao của hệ thống chính quyền và nhân dân, doanh nghiệp thành phố, một thành phố TP. Hải Phòng thông minh đang từng bước được hiện hình, trở thành một hình mẫu đô thị tiên tiến của cả nước, vươn tầm sánh vai trong khu vực châu Á nói riêng và toàn thế giới nói chung.
aa
TP. Hải Phòng: Phát triển đô thị tiên tiến, sánh vai khu vực và thế giới

TP. Hải Phòng đặt mục tiêu xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ, trở thành xương sống của phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh tư liệu

“Ghi điểm” nhờ hạ tầng giao thông hiện đại

Từ nhiều năm trước TP. Hải Phòng đã đặt mục tiêu xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ, trở thành xương sống của phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với các công trình giao thông trọng điểm do Trung ương đầu tư, hàng loạt các công trình giao thông được thành phố chủ động đầu tư nhằm hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông.

Phấn đấu trở thành đầu tàu thu hút FDI

Hải Phòng đã ghi dấu ấn mạnh mẽ khi trở thành đầu tàu trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với hàng loạt dự án FDI xanh thân thiện với môi trường. Thành phố đã thu hút khoảng 1.000 dự án FDI đến từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng số vốn khoảng 32 tỷ USD, cùng với hơn 200 dự án đầu tư trong nước với số vốn khoảng 14 tỷ USD. Trong năm 2024, tổng vốn FDI ước đạt khoảng 3,35 tỷ USD, tăng gần 93% so với năm 2023.

TP. Hải Phòng hội tụ đủ 5 loại hình giao thông như đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy nội địa và đường hàng không, trong đó có cảng biển nước sâu Lạch Huyện - cảng cửa ngõ quốc tế duy nhất miền Bắc, Cảng hàng không quốc tế Cát Bi, hệ thống đường sắt kết nối 2 hành lang, 1 vành đai kinh tế giữa Việt Nam - Trung Quốc.

Hệ thống cảng biển Hải Phòng tạo thành cụm cảng có quy mô ngày càng lớn; chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ giao nhận hàng hóa của khu vực Bắc Bộ và tham gia dịch vụ vận tải hàng hóa quốc tế.

Đối với hệ thống giao thông đường bộ, giai đoạn 2019 - 2023, Hải Phòng đã đầu tư xây dựng mới được gần 20 km đường quốc lộ, gần 30 km đường tỉnh lộ, hơn 55 km huyện lộ và gần 140 km đường đô thị.

Hệ thống giao thông đường biển tiếp tục được đầu tư xây dựng tuân thủ quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển phía Bắc, Quy hoạch chi tiết khu bến cảng biển Lạch Huyện.

Có thể nói, cùng với vị trí chiến lược, việc đầu tư hạ tầng giao thông đồng bộ đã tạo điều kiện cho việc liên kết, hợp tác và kết nối vùng cùng tăng tốc, phát triển, mang đến cho Hải Phòng một diện mạo mới.

Thu hút FDI chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững

Những năm gần đây, thu hút đầu tư vào khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp (KCN) được TP. Hải Phòng chủ động lựa chọn theo hướng hiệu quả và phát triển bền vững hợp lý, hiện đại. Tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp, GRDP công nghiệp ngày càng tăng qua các năm.

Cơ cấu này đã phản ánh sự chuyển dịch ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vừa bảo đảm phát triển công nghiệp chủ lực hiện đại có tỷ trọng cao vừa phát triển đa dạng ngành nghề có lợi thế, hướng tới tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.

Thành phố luôn chú trọng và khuyến khích các nhà đầu tư tập trung cho việc phát triển mô hình KCN sinh thái, phát triển KCN bền vững, hiệu quả. Đặc biệt là chú trọng ưu tiên, khuyến khích mạnh mẽ các hoạt động đổi mới sáng tạo, đầu tư xây dựng các bộ phận, trung tâm nghiên cứu tại thành phố Hải Phòng phát triển các lĩnh vực mới: kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh, sinh thái.

Nhờ hướng đi đúng đắn và biết phát huy tiềm năng tại đúng thời điểm và địa điểm, Hải Phòng đã ghi dấu ấn mạnh mẽ khi trở thành đầu tàu trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với hàng loạt dự án FDI xanh thân thiện với môi trường. Thành phố đã thu hút khoảng 1.000 dự án FDI đến từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng số vốn khoảng 32 tỷ USD, cùng với hơn 200 dự án đầu tư trong nước với số vốn khoảng 14 tỷ USD. Trong năm 2024, tổng vốn FDI ước đạt khoảng 3,35 tỷ USD, tăng gần 93% so với năm 2023.

Ông Nguyễn Văn Tùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố, trong kỳ họp thứ 21 HĐND cho biết: “Chủ đề năm 2025 của thành phố là “Đẩy mạnh chỉnh trang, hiện đại hóa đô thị - Xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu - Tăng cường thực hiện các chính sách xã hội và chuyển đổi số”. Mục tiêu tổng quát: Cơ bản hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đạt các tiêu chí đô thị loại I; trở thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại; là trọng điểm kinh tế biển của cả nước, trung tâm dịch vụ logistics quốc gia, trung tâm đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ biển của cả nước, trung tâm nghề cá, dịch vụ hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc. Cát Bà, Đồ Sơn cùng với Hạ Long trở thành trung tâm du lịch quốc tế. Hoàn thành việc di chuyển Trung tâm hành chính thành phố sang phía Bắc sông Cấm. Xây dựng chính quyền đô thị với bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2023 - 2030 đạt chỉ tiêu 13,5%

Nhiệm vụ trọng tâm năm 2025 được TP. Hải Phòng xác định: Toàn hệ thống chính trị tập trung cho công tác tinh gọn tổ chức bộ máy và biên chế. Hải Phòng phải đi đầu, phải làm mạnh mẽ hơn Trung ương, quyết liệt trước tiến độ Trung ương đề ra là trong quý I/2025.

Đặc biệt, mức tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2030 của thành phố sẽ đạt từ 13,5% theo đúng Quy hoạch 1516. Bên cạnh đó, HĐND TP. Hải Phòng cũng quyết định nâng mức chi đầu tư công lên tới 25.428 tỷ đồng, tăng 130% so với năm 2024.

Để có thể thực hiện các mục tiêu tăng trưởng cao như đã thống nhất, trong năm 2025, thành phố cần hoàn thành một số nhiệm vụ quan trọng: Thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng, đẩy nhanh tiến độ thành lập các khu công nghiệp; nghiên cứu, quy hoạch mạng lưới giao thông ngầm, để dành quỹ đất dự trữ, sẵn sàng đầu tư trong tương lai; quy hoạch các vị trí có thể lấn biển tạo không gian phát triển mới; quy hoạch các vị trí phù hợp để Hải Phòng trở thành trung tâm năng lượng. Đồng thời, thành lập Khu thương mại tự do thế hệ mới, hoàn thành trong năm 2025; khẩn trương thực hiện các thủ tục để sớm khởi công xây dựng các dự án: Cầu Tân Vũ - Lạch Huyện 2; Cảng Nam Đồ Sơn; Ga hành khách và sân đỗ máy bay Sân bay Cát Bi.

Thành phố tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để có thể hoàn thành tiến độ dự án Đường bộ cao tốc ven biển để khai thông động lực tăng trưởng cho Khu kinh tế phía Nam thành phố; Xây dựng Đề án chuyển đổi xanh TP. Hải Phòng, trước mắt xây dựng Cát Bà trở thành đảo xanh; phát triển khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng theo hướng xanh, sinh thái…

Để sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư công, chính quyền TP. Hải Phòng đã chỉ đạo, ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm tài chính, chủ đầu tư các dự án cần đẩy nhanh tiến độ thi công, tập trung giải ngân vốn đầu tư công.

Tiến Dũng - Thế An

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80