TP. Hồ Chí Minh "chạy đua nước rút" để đạt mục tiêu tăng trưởng 7,5%

Gia Cư
(TBTCO) - Chỉ còn chưa đầy 2,5 tháng nữa là kết thúc năm 2024, thời gian để hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và đặc biệt là đối với TP. Hồ Chí Minh đang là áp lực rất lớn khi phải tăng tốc nhiều giải pháp, chạy nước rút với thời gian để đạt được mục tiêu đề ra cả năm.
aa
TP. Hồ Chí Minh
TP. Hồ Chí Minh sẽ sớm đưa vào vận hành dự án đường sắt đô thị tuyến metro số 1 ngay trong quý IV/2024. Ảnh tư liệu

Đà tăng trưởng tích cực trong quý III

Theo đánh giá của ông Nguyễn Khắc Hoàng - Cục trưởng Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố trong quý III và 9 tháng năm 2024 tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Sản xuất công nghiệp, tiêu dùng và xuất khẩu vẫn là 3 trụ cột chính tác động đến sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 9 tháng tăng 6,9% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu thị trường đang tăng và chu kỳ sản xuất cuối năm sẽ tạo động lực cho khu vực sản xuất công nghiệp. Một điều rất đáng mừng là xuất khẩu sau bao nhiêu tháng giảm đã tăng trở lại, ghi nhận mức tăng 1,2% trong số thu từ xuất, nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp cho biết đã có các đơn hàng ổn định từ nay đến cuối năm 2024, thậm chí một số đơn hàng kéo dài đến quý I/2025.

Cũng theo ông Nguyễn Khắc Hoàng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định với mức tăng 10,5%, cao hơn trung bình cả nước. Các chỉ số cho thấy sự phục hồi của khu vực sản xuất, cũng như chứng minh chương trình kích cầu đang được triển khai rất tốt. Riêng hoạt động du lịch, lĩnh vực này đã hoàn toàn phục hồi, đóng góp tích cực vào nền kinh tế thành phố, với sự gia tăng của khách trong và ngoài nước. Đặc biệt, thu ngân sách tăng 14,3% đã khẳng định một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh có sự tăng trưởng ổn định. Cùng với đó, chi ngân sách thường xuyên tăng 14,1% là tín hiệu rất tốt trong sự tăng trưởng của thành phố. Hiện chỉ số lạm phát của TP. Hồ Chí Minh cũng đang ở mức thấp 3,17% và dự báo duy trì mức 4% trong 2024.

Theo Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi, kết quả kinh tế - xã hội quý III/2024 của thành phố mặc dù vẫn tiếp đà phục hồi và phát triển, theo chiều hướng tích cực, quý sau cao hơn quý trước, nhất là trong quý III, nhưng vẫn chưa có sự đột phá; công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành, địa phương vẫn còn nhiều điểm còn chưa thông suốt…

Phải đồng bộ các giải pháp trong ngắn hạn

Theo phân tích của các chuyên gia, tháng 9 vừa qua, TP. Hồ Chí Minh tuy không là địa phương bị ảnh hưởng trực tiếp do bão số 3 nhưng cũng bị liên đới đến chuỗi nguyên liệu sản xuất, thị trường tiêu thụ và du lịch. Điều này đang làm cản trở bước đột phá trong những tháng cuối năm, nhất là trong bối cảnh cả hệ thống chính trị của thành phố phải tập trung nỗ lực phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội cả năm.

Trước dự báo mức tăng trưởng kinh tế của thành phố chỉ đạt hơn 7%, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi cho rằng, nếu muốn năm 2024 đạt được 7,5% thì trong quý IV, thành phố phải tăng trưởng đến trên 9%. Đây thực sự đặt ra áp lực rất lớn trong thực hiện nhiệm vụ từ nay đến hết năm 2024 (chỉ còn 2,5 tháng nữa là kết thúc).

Theo TS. Nguyễn Văn Hiến - nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm như kỳ vọng, trong quý IV/2024, TP. Hồ Chí Minh cần tập trung một số giải pháp ngắn hạn nhưng mang tính đột phá. Trong đó tập trung đẩy mạnh hỗ trợ cho 3 lĩnh vực gồm: xuất khẩu, tiêu dùng, đầu tư. Theo đó, về xuất khẩu, lãnh đạo thành phố cần làm việc với phía ngân hàng, tăng cường hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp đang có hợp đồng, đơn hàng xuất khẩu. Đối thị trường bất động sản tiêu dùng, thành phố cần quan tâm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp có đủ pháp lý thực hiện các dự án nhà ở xã hội dành cho người có thu nhập thấp nhưng đang thiếu vốn. Thành phố cần có chính sách hỗ trợ hoãn, giãn nợ, tăng cường giải ngân, hấp thụ vốn cho những doanh nghiệp này.

Một vấn đề quan trọng nữa đó là phải tập trung kích cầu tiêu dùng dịp cuối năm bằng các biện pháp như: đẩy mạnh cho vay tiêu dùng đi đôi với các chương trình khuyến mãi tiêu dùng cho người nghèo; khởi động lại các doanh nghiệp chuyên sản xuất, cung ứng hàng hóa phục vụ tiêu dùng. Bên cạnh đó, TP. Hồ Chí Minh nên đặc biệt coi trọng đẩy nhanh đầu tư công, hấp thụ vốn cho các dự án, giải quyết việc làm cho người lao động theo phương châm “vướng ở đâu - tháo gỡ ở đó”.

Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi trong nhiều lần phát biểu chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong quý IV luôn nhấn mạnh, không còn chần chừ gì nữa, ngay từ thời điểm này các cơ quan, đơn vị, địa phương, từng người đứng đầu phải rà soát, tăng tốc thực hiện các giải pháp, nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của cơ quan và phối hợp để hệ thống hành chính hiệu quả hơn. Từng sở, ngành, địa phương, từng người đứng đầu phải chọn việc trọng tâm, trọng điểm để thực hiện.

Đặc biệt, đối với giải ngân đầu tư công, đây là một trong những nhiệm vụ cả hệ thống chính trị phải tập trung toàn lực để thực hiện các ngành, địa phương, các chủ đầu tư phải tập trung quyết liệt giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai. Trong đó, phải tập trung giải quyết các vấn đề nổi cộm về quy hoạch, giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm; sớm đưa vào vận hành dự án đường sắt đô thị tuyến metro số 1 ngay trong quý IV này. Đối với giải ngân đầu tư công, TP. Hồ Chí Minh sẽ không điều chỉnh, mà tập trung giải quyết những vướng mắc để đạt kết quả cao nhất (95% kế hoạch vốn được giao).

TP. Hồ Chí Minh

Phải đồng bộ các giải pháp để đột phá

TP. Hồ Chí Minh cần tăng cường, quyết liệt hơn nữa các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị quyết 98/2023/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh; đẩy mạnh thực hiện các chương trình khuyến công, hỗ trợ doanh nghiệp, kích cầu đầu tư, tiêu dùng. Ngoài ra, thành phố cần quyết liệt hơn để hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật giúp phát huy hiệu quả hơn nội lực của nền kinh tế. GS-TS Nguyễn Thị Cành - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Gia Cư

Đọc thêm

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55 - 58% GDP; Việt Nam có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

(TBTCO) - Đối với Việt Nam, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD, tăng khoảng 30,3% so với năm 2021.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80