Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
aa

Diễn biến thị trường trong nước

Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá USD tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng điều chỉnh tương ứng.

Với biên độ giao dịch 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong vùng 23.877,3 - 26.390,7 VND/USD.

Trong khi đó, USD tự do ghi nhận giao dịch phổ biến quanh 26.500 - 26.550 VND/USD.

Khảo sát tại các ngân hàng cho thấy, tỷ giá USD chủ yếu điều chỉnh tăng nhẹ ở chiều mua vào trong khi giữ giá bán ổn định sát mức trần. Cụ thể, tại Vietcombank niêm yết tỷ giá USD là 26.131 - 26.391 VND/USD, tăng 10 đồng chiều mua; Agribank 26.141 - 26.391 VND/USD, tăng 10 đồng chiều mua; HSBC 26.218 - 26.390 VND/USD, tăng 9 đồng chiều mua. Tỷ giá USD tại VIB là 26.130 - 26.391 VND/USD, tăng 10 đồng chiều mua và Techcombank 26.170 - 26.391 VND/USD, tăng 3 đồng chiều mua, riêng Sacombank 26.203 - 26.391 VND/USD giảm 4 đồng ở chiều mua vào.

Tỷ giá USD, EUR, GBP giao dịch tại các ngân hàng thương mại lớn chốt phiên 21/5 gồm: Agribank; Vietcombank, BIDV, Sacombank, HSBC, Eximbank như sau:

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trái lại, đồng EUR có xu hướng tăng mạnh đồng loạt trên toàn hệ thống với mức tăng phổ biến trên 50 đồng, tiêu biểu là Vietcombank 29.860 - 31.434 VND/EUR, tăng 55 đồng chiều mua và 58 đồng chiều bán; BIDV 30.201 - 31.484 VND/EUR, tăng 61 đồng chiều mua và 64 đồng chiều bán.

Tỷ giá EUR tại HSBC là 29.986 - 31.126 VND/EUR, tăng mạnh 98 đồng chiều mua và 96 đồng chiều bán, Sacombank 30.194 - 31.947 VND/EUR, tăng 84 đồng chiều mua và 82 đồng chiều bán.

Đồng GBP ghi nhận biến động mạnh nhất khi mức tăng vượt ngưỡng 100 đồng tại đa số các ngân hàng, điển hình tại Vietcombank 34.495 - 35.960 VND/GBP, tăng 92 đồng chiều mua và 97 đồng chiều bán, BIDV 34.874 - 35.968 VND/GBP, tăng 124 đồng chiều mua và 130 đồng chiều bán. Đặc biệt tại HSBC 34.473 - 35.826 VND/GBP, tăng vọt 161 đồng ở cả hai chiều mua và bán.

Diễn biến thị trường thế giới

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,24 điểm, tăng 0,04%, cho thấy đồng USD tăng nhẹ so với rổ tiền tệ. Theo đó, tỷ giá USD/EUR hiện ở mức 0,861, tăng 0,03%, phản ánh USD mạnh lên nhẹ so với EUR. Tỷ giá USD/GBP đạt 0,7448, tăng 0,04%, cho thấy USD tiếp tục nhích tăng so với GBP. Tỷ giá USD/JPY ở mức 159,11, tăng 0,1%, là mức tăng mạnh nhất trong nhóm, cho thấy đồng Yên vẫn chịu áp lực giảm giá đáng kể.

Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang đối mặt với áp lực lớn khi lạm phát gia tăng nhanh hơn dự báo trong khi lãi suất chính sách chưa bắt kịp tốc độ tăng giá cả. Theo Reuters, lãi suất thực tại Mỹ đã rơi vào vùng âm lần đầu tiên sau 03 năm, khiến thị trường dự đoán Fed sẽ phải duy trì lập trường thắt chặt tiền tệ cứng rắn trong thời gian dài hơn dự kiến.

Trên quy mô toàn cầu, các ngân hàng trung ương tại Australia và Na Uy đã bắt đầu nâng lãi suất để kiềm chế áp lực giá cả, tuy nhiên, nhiều cơ quan điều hành khác vẫn tỏ ra thận trọng do lo ngại tăng trưởng kinh tế suy yếu và chi phí vay vốn cao gây áp lực lên hệ thống tài chính.

Khu vực châu Âu cũng đang đứng trước thế khó khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) lo ngại rủi ro tăng trưởng chậm đi kèm lạm phát cao do giá năng lượng leo thang. Cơ quan này có thể phải cân nhắc tăng lãi suất để duy trì uy tín chính sách dù nền kinh tế vẫn đối mặt nhiều rủi ro.

Tại Nhật Bản, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) cảnh báo việc duy trì lãi suất thực âm quá lâu có thể gây méo mó nguồn lực và lan rộng áp lực lạm phát. Việc nâng lãi suất với tốc độ phù hợp là hợp lý để giải quyết lạm phát, khiến thị trường kỳ vọng lãi suất chính sách có thể tăng từ 0,25% lên mức 1% phần trăm vào cuộc họp ngày 16/6.

Những diễn biến này cùng với lập trường diều hâu của BoJ đã tác động mạnh đến thị trường ngoại hối, đưa cặp tỷ giá USD/JPY giao dịch quanh mức 159 với kỳ vọng duy trì dưới ngưỡng 160 nhờ sự hỗ trợ cho đồng Yên.

Về khía cạnh địa chính trị, Iran đang xem xét lập trường mới nhất từ phía Mỹ sau khi Tổng thống Donald Trump phát tín hiệu ưu tiên thỏa thuận hòa bình và trì hoãn các hành động quân sự. Dù tuyên bố các cuộc đàm phán đang diễn ra thuận lợi, ông Trump vẫn cảnh báo sẽ có thêm hành động quân sự nếu thỏa thuận không được ký kết và nhấn mạnh Iran không được phép sở hữu vũ khí hạt nhân./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Dù duy trì chia cổ tức tiền mặt nhiều năm, PJICO vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng cao hơn từ nhiều cổ đông trong bối cảnh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm chịu sức ép. Quý I/2026, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng mạnh 13,2% lên mức cao, song áp lực chi phí khiến lợi nhuận gộp mảng bảo hiểm đi ngang, tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu dựa vào hoạt động tài chính.
Lộ diện 22 nhà đầu tư đăng ký mua cổ phiếu riêng lẻ, NCB đẩy nhanh kế hoạch tăng vốn lên sát 30.000 tỷ đồng

Lộ diện 22 nhà đầu tư đăng ký mua cổ phiếu riêng lẻ, NCB đẩy nhanh kế hoạch tăng vốn lên sát 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - NCB vừa công bố danh sách nhà đầu tư chuyên nghiệp dự kiến tham gia đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ, trong đó có nhiều lãnh đạo và cổ đông hiện hữu đăng ký mua thêm. Sau khi phát hành thành công 1 tỷ cổ phiếu, ngân hàng sẽ nâng vốn điều lệ lên hơn 29.280 tỷ đồng, trong bối cảnh tín dụng quý đầu năm tăng mạnh 20%.
VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

(TBTCO) - VPBank dự kiến phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 26,04%, qua đó nâng vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng ngay trong quý II - III/2026 và trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên vượt mốc này. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô tín dụng hợp nhất mở rộng mạnh 10,2% chỉ sau một quý, đạt 1,06 triệu tỷ đồng.
Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,940 16,240
Kim TT/AVPL 15,940 16,240
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,940 16,240
Nguyên Liệu 99.99 14,890 15,090
Nguyên Liệu 99.9 14,840 15,040
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,690 16,090
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,640 16,040
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,570 16,020
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,400 162,400
Hà Nội - PNJ 159,400 162,400
Đà Nẵng - PNJ 159,400 162,400
Miền Tây - PNJ 159,400 162,400
Tây Nguyên - PNJ 159,400 162,400
Đông Nam Bộ - PNJ 159,400 162,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,940 16,240
Miếng SJC Nghệ An 15,940 16,240
Miếng SJC Thái Bình 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,940 16,240
NL 99.90 14,600
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650
Trang sức 99.9 15,430 16,130
Trang sức 99.99 15,440 16,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,594 16,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,594 16,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,589 1,619
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,589 162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,569 1,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,312 158,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,562 120,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,333 109,233
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,104 98,004
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,773 93,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,143 67,043
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cập nhật: 22/05/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18276 18551 19124
CAD 18578 18855 19469
CHF 32827 33212 33857
CNY 0 3833 3926
EUR 29961 30234 31262
GBP 34572 34964 35898
HKD 0 3232 3434
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15166 15751
SGD 20058 20340 20866
THB 722 785 839
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26168 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,160 26,160 26,390
USD(1-2-5) 25,114 - -
USD(10-20) 25,114 - -
EUR 30,177 30,201 31,461
JPY 161.6 161.89 170.66
GBP 34,855 34,949 35,943
AUD 18,517 18,584 19,176
CAD 18,813 18,873 19,457
CHF 33,174 33,277 34,061
SGD 20,246 20,309 20,981
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,306 3,316 3,435
KRW 16.14 16.83 18.2
THB 772.01 781.54 831.92
NZD 15,177 15,318 15,680
SEK - 2,779 2,861
DKK - 4,038 4,156
NOK - 2,808 2,895
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,233.91 - 7,000.51
TWD 757.21 - 912.02
SAR - 6,923.83 7,250.88
KWD - 83,840 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26390
AUD 18458 18558 19486
CAD 18765 18865 19882
CHF 33085 33115 34698
CNY 3813.7 3838.7 3974.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30152 30182 31910
GBP 34875 34925 36686
HKD 0 3355 0
JPY 162.14 162.64 173.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15268 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20232 20362 21090
THB 0 752.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16300000
SBJ 14000000 14000000 16300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,220 26,390
USD20 26,170 26,220 26,390
USD1 23,878 26,220 26,390
AUD 18,507 18,607 19,724
EUR 30,291 30,291 31,720
CAD 18,705 18,805 20,125
SGD 20,299 20,449 21,420
JPY 162.56 164.06 168.69
GBP 34,764 35,114 36,250
XAU 15,948,000 0 16,242,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80