78% dư nợ tín dụng đi vào sản xuất kinh doanh

Hoàng Yến
(TBTCO) - Dư nợ tín dụng tính đến 29/9/2025 đạt 17,41 triệu tỷ đồng, tăng 13,4% so với cuối năm 2024. Trong đó, khoảng 78% vốn tín dụng đi vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh (tương đương gần 13,58 triệu tỷ đồng - PV).
aa

Đây là thông tin được Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đoàn Thái Sơn cho biết tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 9 diễn ra chiều 5/10.

Trả lời phóng viên về tình hình tăng trưởng tín dụng cũng như tỷ lệ dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, Phó Thống đốc cho hay, trên cơ sở mục tiêu của Chính phủ về tăng trưởng kinh tế và chỉ số GDP, Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho năm 2025 là 16%, đồng thời sẽ có điều chỉnh phù hợp với thực tế trong quá trình điều hành.

78% dư nợ tín dụng đi vào sản xuất kinh doanh

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đoàn Thái Sơn trả lời tại cuộc họp báo.

Từ đầu năm 2025 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, tổ chức nhiều hội nghị, cuộc họp liên quan đến kết nối tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp để điều hành tăng trưởng tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung vào hai nhóm giải pháp lớn. Thứ nhất là tăng trưởng tín dụng một cách an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mang tính ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo đúng chủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thủ tục cho vay để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh

Với các giải pháp như vậy, tính đến ngày 29/9/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt 17,41 triệu tỷ đồng, tăng 13,4% so với cuối năm 2024. Cơ cấu tín dụng của các ngành cơ bản phù hợp với cơ cấu kinh tế.

Tỷ trọng tín dụng đối với 3 ngành kinh tế lớn lần lượt là: nông, lâm, thủy sản chiếm 6,23%; công nghiệp và xây dựng chiếm 23,97%; thương mại và dịch vụ chiếm 69,8%. So với cùng kỳ năm 2024, các tỷ lệ này lần lượt là 6,84%, 25,65% và 67,51%. “Như vậy, dù có biến động nhưng nhìn chung vẫn có tăng trưởng” - Phó Thống đốc cho biết.

Về hướng đi của dòng vốn, Phó Thống đốc khẳng định, vốn tín dụng tiếp tục được định hướng vào sản xuất, kinh doanh, với 78% dư nợ tín dụng hiện đang hỗ trợ các hoạt động này. Trong đó, một số lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể, đến cuối tháng 8/2025, dư nợ lĩnh vực nông nghiệp đạt 3,9 triệu tỷ đồng (chiếm khoảng 22,6%); tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt khoảng 3,3 triệu tỷ đồng (chiếm 19,04%).

78% dư nợ tín dụng đi vào sản xuất kinh doanh

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Sơn chủ trì cuộc họp báo. Ảnh: Đức Minh

Một số lĩnh vực ưu tiên có tốc độ tăng trưởng cao, như công nghệ – công nghiệp hỗ trợ tăng khoảng 23,4%, tín dụng cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng khoảng 25,14% so với cuối năm 2024. Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng được triển khai tích cực.

Trong đó, chương trình cho vay khắc phục khó khăn đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản xuất khẩu có tổng giải ngân lũy kế khoảng 166.000 tỷ đồng; chương trình cho vay nhà ở xã hội và cho vay người trẻ dưới 35 tuổi theo Quyết định số 33/QĐ-TTg đạt quy mô giải ngân khoảng 4.000 tỷ đồng, tăng 66,2% so với cuối năm 2024. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng đã triển khai một số gói tín dụng khác nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Trong thời gian tới, để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% đã đề ra cho năm 2025 và góp phần hỗ trợ nền kinh tế, đại diện Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp đồng bộ. Việc điều hành tín dụng sẽ được thực hiện phù hợp với chỉ đạo điều hành kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả; tiếp tục hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ưu tiên và các động lực tăng trưởng; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó có chương trình hỗ trợ 2% lãi suất từ ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và từng bước áp dụng khung tiêu chuẩn ESG./.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80