Agribank đã hỗ trợ hơn 70.000 khách hàng bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19

Bài và ảnh: Nhật Minh
Sẵn sàng chia sẻ khó khăn cùng khách hàng và cộng đồng trong cuộc chiến đẩy lùi đại dịch Covid-19, Agribank luôn tiên phong, chủ động triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, cùng khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trên khắp cả nước sớm ổn định cuộc sống và phục hồi sản xuất - kinh doanh.
aa

Nhanh chóng vào cuộc, chia sẻ khó khăn với khách hàng

Thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu trong việc thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia và các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tiền tệ, ngân hàng, nhất là chính sách tín dụng; ngay từ thời điểm đầu năm 2020 khi dịch bệnh bắt đầu bùng phát trong nước, thực hiện tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Agribank đã nhanh chóng vào cuộc thực hiện hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, bao gồm cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí, cho vay mới... theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN.

agribank-2.jpg
Các chương trình tín dụng ưu đãi dành riêng cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp đang phát huy hiệu quả. (Ảnh chụp trước khi dịch bệnh bùng phát)

Tính đến tháng 7/2021, dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 của Agribank khoảng 170.000 tỷ đồng. Đến nay, Agribank đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho 9.288 khách hàng với dư nợ (gốc và lãi) là 26.997 tỷ đồng, miễn giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ cho 1.465 khách hàng với dư nợ miễn, giảm lãi 3.653 tỷ đồng; cho vay mới đạt trên 250.000 tỷ đồng với khoảng 50.000 khách hàng.

Chỉ tính riêng trong năm 2020, Agribank đã tiên phong 7 lần giảm lãi suất cho vay, trong đó có 4 lần giảm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên; 9 lần giảm phí dịch vụ; đồng thời triển khai các chương trình tín dụng với lãi suất cho vay thấp hơn từ 0,5% - 2,5% so với trước khi có dịch bệnh Covid-19 để đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng.

Tính cả năm 2020 và nửa đầu năm 2021, Agribank đồng loạt triển khai nhiều chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi, đến nay, việc thực hiện giải ngân các chương trình này đang phát huy hiệu quả. Hàng chục nghìn khách hàng trong cả nước đã được tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi của Agribank, tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh.

Kịp thời và thiết thực đến với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 là chương trình tín dụng ưu đãi dành riêng cho đối tượng khách hàng này được triển khai từ đầu năm 2020 với quy mô 100.000 tỷ đồng (năm 2021 nâng lên 200 ngàn tỷ đồng), lãi suất cho vay ngắn hạn dưới 7%/năm, trung, dài hạn từ 6,5%, giảm đến 2,5%/năm so với lãi suất cho vay thông thường, cùng đối tượng; doanh số giải ngân đến 31/7/2021 đạt trên 102 nghìn tỷ đồng với khoảng 9.000 khách hàng.

Tiếp theo đó, ngày 14/7/2021 vừa qua, Agribank tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với các khách hàng bị ảnh hưởng dịch Covid-19, trong đó giảm đến 10% lãi suất đối với các khách hàng còn dư nợ tại thời điểm 15/7/2021 và các khách hàng phát sinh dư nợ sau ngày 15/7/2021 đến 31/12/2021. Số lãi giảm đối với dư nợ tại ngày 15/7/2021 là: 4.500 tỷ đồng; số lãi dự kiến tiếp tục giảm sau 15/7/2021 là khoảng 1.000 tỷ đồng.

Agribank cũng đồng thời triển khai một loạt chương trình ưu đãi cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp bao gồm: Chương trình tín dụng ưu đãi đối với khách hàng FDI với quy mô 5.000 tỷ đồng và 150 triệu USD được triển khai từ tháng 7/2020, lãi suất cho vay dưới 4,8%, sau một năm triển khai, doanh số giải ngân đến 31/7/2021 đạt 1.272 tỷ đồng và 74 triệu USD. Chương trình tín dụng ưu đãi khách hàng lớn với quy mô 35.000 tỷ đồng được triển khai từ tháng 10/2020, tính đến 31/7/2021, doanh số giải ngân đạt 12.136 tỷ đồng.

Với đối tượng khách hàng xuất nhập khẩu, Agribank triển khai chương trình ưu đãi với quy mô 15.000 tỷ đồng và 30 triệu USD, mức cho vay thấp nhất đối với VNĐ là 3,5%/năm, đối với USD là 1,7%/năm vừa được triển khai trong tháng 6/2021, doanh số giải ngân đến 31/7/2021 đạt 685 tỷ đồng và 48 triệu USD. Cũng trong tháng 6/2021, Agribank triển khai chương trình cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô 30.000 tỷ đồng, lãi suất ngắn hạn dưới 6,5%, lãi suất cho vay trung, dài hạn từ 6,5%, giảm 2%/năm so với lãi suất thông thường, cùng đối tượng; tính đến 31/7/2021, doanh số giải ngân đạt 166 tỷ đồng với 30 khách hàng.

Bên cạnh đó, từ cuối tháng 6/2021, Agribank cũng triển khai chương trình cho vay tiêu dùng lãi suất ưu đãi đối với khách hàng cá nhân khu vực đô thị với quy mô 20.000 tỷ đồng, lãi suất cho vay từ 6,5%/năm - 7%/năm; đến 31/7/2021, sau hơn 1 tháng triển khai, doanh số giải ngân đạt 417 tỷ đồng với 465 khách hàng.

Đồng thời, nhằm đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và hỗ trợ khách hàng, Agribank đã miễn phí chuyển tiền trong và ngoài hệ thống áp dụng đối với khách hàng cá nhân và tổ chức có tài khoản thanh toán tại Agribank, giao dịch trên các kênh ngân hàng điện tử (Agribank E-Mobile Banking, Agribank Internet Banking, ATM/CDM) và tại quầy giao dịch của Agribank.

Mới đây, ngày 29/7/2021, Agribank tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn các chi nhánh trong toàn hệ thống khuyến khích khách hàng dùng các phương thức thanh toán điện tử thực hiện các giao dịch trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Đồng thời, Agribank giảm 5% phí rút tiền tại ATM của ngân hàng khác từ ngày 5/8/2021 đến hết ngày 31/12/2021 đối với chủ thẻ nội địa của Agribank với mong muốn tiếp sức cho khách hàng vượt qua khó khăn trong mùa dịch.

Chủ động giảm chi phí và lợi nhuận, hỗ trợ khách hàng và cộng đồng

Trước ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 ngày càng gia tăng, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng Agribank đã và đang quyết liệt cùng Chính phủ, NHNN triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm vừa đảm bảo chống dịch, vừa phát triển kinh tế, góp phần đưa sản xuất, kinh doanh hồi phục nhanh sau dịch bệnh.

Năm 2020, Agribank đã cắt giảm tối đa các loại chi phí, giảm tiền lương và giảm lợi nhuận 3 - 4 nghìn tỷ đồng để tập trung nguồn lực tài chính chia sẻ khó khăn, hỗ trợ người dân, khách hàng hộ sản xuất và doanh nghiệp.

agribank-3.jpg
Agribank chủ động cắt giảm chi phí hoạt động và lợi nhuận để chung tay vượt khó cùng cộng đồng và giúp hàng nghìn khách hàng phục hồi sản xuất - kinh doanh. (Ảnh chụp trước khi dịch bệnh bùng phát)

Năm 2021, với các biện pháp hỗ trợ, giảm lãi suất cho vay; miễn và giảm phí thanh toán, phí rút tiền, Agribank dự kiến sẽ giảm khoảng hơn 7.000 tỷ đồng để hỗ trợ khách hàng và nền kinh tế chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.

Là định chế tài chính hàng đầu Việt Nam, Agribank cũng đồng thời thể hiện trách nhiệm tiên phong trong các hoạt động an sinh xã hội, sẵn sàng chung tay vượt khó cùng cộng đồng. Cùng với các biện pháp kinh tế tháo gỡ khó khăn cho khách hàng do tác động của dịch Covid-19, đến nay hệ thống Agribank đã ủng hộ trên 300 tỷ đồng bao gồm cả tiền và hiện vật cho công tác phòng chống dịch Covid-19 trong cả nước.

Trong đó, đóng góp gần 90 tỷ đồng vào Quỹ Vaccine phòng, chống Covid-19; ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19 cho TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các địa phương có dịch số tiền trên 83 tỷ đồng. Tài trợ cho lĩnh vực y tế, bệnh viện số tiền trên 33 tỷ đồng. Cán bộ các chi nhánh ủng hộ tại địa phương gần 28 tỷ đồng và 53,3 tỷ đồng thu được qua 2 đợt vận động toàn thể cán bộ Agribank tham gia ủng hộ một ngày lương và dùng nguồn thu nhập của cá nhân để ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19 do Công đoàn Agribank phát động đã được sử dụng để ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các địa phương trên toàn quốc.

Hiện nay, công tác quyên góp ủng hộ, hỗ trợ công tác phòng chống dịch Covid-19 vẫn đang được các đơn vị trong toàn hệ thống tích cực triển khai thực hiện, nhằm góp phần tăng thêm nguồn lực cho Chính phủ và các địa phương trong cuộc chiến chống Covid-19.

Thông qua hàng loạt các biện pháp kinh tế và hoạt động an sinh xã hội, cũng như chủ động cắt giảm chi phí hoạt động và giảm lợi nhuận để hỗ trợ cho khách hàng và cộng đồng, cho thấy nỗ lực và quyết tâm rất lớn của Agribank trong việc thực thi và phát huy hiệu quả những chính sách hỗ trợ từ phía ngành Ngân hàng. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm tiên phong của một doanh nghiệp, luôn sẵn sàng chia sẻ, đồng hành, tiếp sức cho người dân, khách hàng vượt qua giai đoạn khó khăn của dịch bệnh Covid-19./.

Bài và ảnh: Nhật Minh

Bài và ảnh: Nhật Minh

Đọc thêm

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 31/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 145 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cùng mất từ 900.000 đến 1,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm tử kỳ tạo sức bật, mở các hướng đi mới

Bảo hiểm tử kỳ tạo sức bật, mở các hướng đi mới

(TBTCO) - Nhu cầu về “tấm lá chắn” bảo vệ thuần túy, thực chất ngày càng rõ nét, đưa bảo hiểm tử kỳ dẫn đầu với hơn 50% số hợp đồng nhân thọ khai thác mới trong 9 tháng. Với chi phí hợp lý, quyền lợi bảo vệ cao, sản phẩm này được nhiều doanh nghiệp chú trọng phát triển, mở rộng kênh phân phối, thậm chí trở thành "mũi nhọn" kinh doanh.
Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

(TBTCO) - Dư địa phát triển bảo hiểm nông nghiệp được mở rộng khi Nghị định số 346/2026/NĐ-CP trao thêm quyền chủ động, linh hoạt hơn cho doanh nghiệp và địa phương. Để chính sách sớm phát huy hiệu quả, việc địa phương sớm ban hành danh mục hỗ trợ, doanh nghiệp năng động triển khai, bảo vệ sinh kế người dân trước rủi ro ngay từ những vụ sản xuất tới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 01/11/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/11/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30