Agribank đã hỗ trợ hơn 70.000 khách hàng bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19

Bài và ảnh: Nhật Minh
Sẵn sàng chia sẻ khó khăn cùng khách hàng và cộng đồng trong cuộc chiến đẩy lùi đại dịch Covid-19, Agribank luôn tiên phong, chủ động triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ, cùng khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trên khắp cả nước sớm ổn định cuộc sống và phục hồi sản xuất - kinh doanh.
aa

Nhanh chóng vào cuộc, chia sẻ khó khăn với khách hàng

Thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu trong việc thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia và các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tiền tệ, ngân hàng, nhất là chính sách tín dụng; ngay từ thời điểm đầu năm 2020 khi dịch bệnh bắt đầu bùng phát trong nước, thực hiện tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Agribank đã nhanh chóng vào cuộc thực hiện hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, bao gồm cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí, cho vay mới... theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN.

agribank-2.jpg
Các chương trình tín dụng ưu đãi dành riêng cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp đang phát huy hiệu quả. (Ảnh chụp trước khi dịch bệnh bùng phát)

Tính đến tháng 7/2021, dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 của Agribank khoảng 170.000 tỷ đồng. Đến nay, Agribank đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho 9.288 khách hàng với dư nợ (gốc và lãi) là 26.997 tỷ đồng, miễn giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ cho 1.465 khách hàng với dư nợ miễn, giảm lãi 3.653 tỷ đồng; cho vay mới đạt trên 250.000 tỷ đồng với khoảng 50.000 khách hàng.

Chỉ tính riêng trong năm 2020, Agribank đã tiên phong 7 lần giảm lãi suất cho vay, trong đó có 4 lần giảm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên; 9 lần giảm phí dịch vụ; đồng thời triển khai các chương trình tín dụng với lãi suất cho vay thấp hơn từ 0,5% - 2,5% so với trước khi có dịch bệnh Covid-19 để đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng.

Tính cả năm 2020 và nửa đầu năm 2021, Agribank đồng loạt triển khai nhiều chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi, đến nay, việc thực hiện giải ngân các chương trình này đang phát huy hiệu quả. Hàng chục nghìn khách hàng trong cả nước đã được tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi của Agribank, tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh.

Kịp thời và thiết thực đến với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 là chương trình tín dụng ưu đãi dành riêng cho đối tượng khách hàng này được triển khai từ đầu năm 2020 với quy mô 100.000 tỷ đồng (năm 2021 nâng lên 200 ngàn tỷ đồng), lãi suất cho vay ngắn hạn dưới 7%/năm, trung, dài hạn từ 6,5%, giảm đến 2,5%/năm so với lãi suất cho vay thông thường, cùng đối tượng; doanh số giải ngân đến 31/7/2021 đạt trên 102 nghìn tỷ đồng với khoảng 9.000 khách hàng.

Tiếp theo đó, ngày 14/7/2021 vừa qua, Agribank tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với các khách hàng bị ảnh hưởng dịch Covid-19, trong đó giảm đến 10% lãi suất đối với các khách hàng còn dư nợ tại thời điểm 15/7/2021 và các khách hàng phát sinh dư nợ sau ngày 15/7/2021 đến 31/12/2021. Số lãi giảm đối với dư nợ tại ngày 15/7/2021 là: 4.500 tỷ đồng; số lãi dự kiến tiếp tục giảm sau 15/7/2021 là khoảng 1.000 tỷ đồng.

Agribank cũng đồng thời triển khai một loạt chương trình ưu đãi cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp bao gồm: Chương trình tín dụng ưu đãi đối với khách hàng FDI với quy mô 5.000 tỷ đồng và 150 triệu USD được triển khai từ tháng 7/2020, lãi suất cho vay dưới 4,8%, sau một năm triển khai, doanh số giải ngân đến 31/7/2021 đạt 1.272 tỷ đồng và 74 triệu USD. Chương trình tín dụng ưu đãi khách hàng lớn với quy mô 35.000 tỷ đồng được triển khai từ tháng 10/2020, tính đến 31/7/2021, doanh số giải ngân đạt 12.136 tỷ đồng.

Với đối tượng khách hàng xuất nhập khẩu, Agribank triển khai chương trình ưu đãi với quy mô 15.000 tỷ đồng và 30 triệu USD, mức cho vay thấp nhất đối với VNĐ là 3,5%/năm, đối với USD là 1,7%/năm vừa được triển khai trong tháng 6/2021, doanh số giải ngân đến 31/7/2021 đạt 685 tỷ đồng và 48 triệu USD. Cũng trong tháng 6/2021, Agribank triển khai chương trình cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô 30.000 tỷ đồng, lãi suất ngắn hạn dưới 6,5%, lãi suất cho vay trung, dài hạn từ 6,5%, giảm 2%/năm so với lãi suất thông thường, cùng đối tượng; tính đến 31/7/2021, doanh số giải ngân đạt 166 tỷ đồng với 30 khách hàng.

Bên cạnh đó, từ cuối tháng 6/2021, Agribank cũng triển khai chương trình cho vay tiêu dùng lãi suất ưu đãi đối với khách hàng cá nhân khu vực đô thị với quy mô 20.000 tỷ đồng, lãi suất cho vay từ 6,5%/năm - 7%/năm; đến 31/7/2021, sau hơn 1 tháng triển khai, doanh số giải ngân đạt 417 tỷ đồng với 465 khách hàng.

Đồng thời, nhằm đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và hỗ trợ khách hàng, Agribank đã miễn phí chuyển tiền trong và ngoài hệ thống áp dụng đối với khách hàng cá nhân và tổ chức có tài khoản thanh toán tại Agribank, giao dịch trên các kênh ngân hàng điện tử (Agribank E-Mobile Banking, Agribank Internet Banking, ATM/CDM) và tại quầy giao dịch của Agribank.

Mới đây, ngày 29/7/2021, Agribank tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn các chi nhánh trong toàn hệ thống khuyến khích khách hàng dùng các phương thức thanh toán điện tử thực hiện các giao dịch trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Đồng thời, Agribank giảm 5% phí rút tiền tại ATM của ngân hàng khác từ ngày 5/8/2021 đến hết ngày 31/12/2021 đối với chủ thẻ nội địa của Agribank với mong muốn tiếp sức cho khách hàng vượt qua khó khăn trong mùa dịch.

Chủ động giảm chi phí và lợi nhuận, hỗ trợ khách hàng và cộng đồng

Trước ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 ngày càng gia tăng, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng Agribank đã và đang quyết liệt cùng Chính phủ, NHNN triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm vừa đảm bảo chống dịch, vừa phát triển kinh tế, góp phần đưa sản xuất, kinh doanh hồi phục nhanh sau dịch bệnh.

Năm 2020, Agribank đã cắt giảm tối đa các loại chi phí, giảm tiền lương và giảm lợi nhuận 3 - 4 nghìn tỷ đồng để tập trung nguồn lực tài chính chia sẻ khó khăn, hỗ trợ người dân, khách hàng hộ sản xuất và doanh nghiệp.

agribank-3.jpg
Agribank chủ động cắt giảm chi phí hoạt động và lợi nhuận để chung tay vượt khó cùng cộng đồng và giúp hàng nghìn khách hàng phục hồi sản xuất - kinh doanh. (Ảnh chụp trước khi dịch bệnh bùng phát)

Năm 2021, với các biện pháp hỗ trợ, giảm lãi suất cho vay; miễn và giảm phí thanh toán, phí rút tiền, Agribank dự kiến sẽ giảm khoảng hơn 7.000 tỷ đồng để hỗ trợ khách hàng và nền kinh tế chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.

Là định chế tài chính hàng đầu Việt Nam, Agribank cũng đồng thời thể hiện trách nhiệm tiên phong trong các hoạt động an sinh xã hội, sẵn sàng chung tay vượt khó cùng cộng đồng. Cùng với các biện pháp kinh tế tháo gỡ khó khăn cho khách hàng do tác động của dịch Covid-19, đến nay hệ thống Agribank đã ủng hộ trên 300 tỷ đồng bao gồm cả tiền và hiện vật cho công tác phòng chống dịch Covid-19 trong cả nước.

Trong đó, đóng góp gần 90 tỷ đồng vào Quỹ Vaccine phòng, chống Covid-19; ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19 cho TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các địa phương có dịch số tiền trên 83 tỷ đồng. Tài trợ cho lĩnh vực y tế, bệnh viện số tiền trên 33 tỷ đồng. Cán bộ các chi nhánh ủng hộ tại địa phương gần 28 tỷ đồng và 53,3 tỷ đồng thu được qua 2 đợt vận động toàn thể cán bộ Agribank tham gia ủng hộ một ngày lương và dùng nguồn thu nhập của cá nhân để ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19 do Công đoàn Agribank phát động đã được sử dụng để ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các địa phương trên toàn quốc.

Hiện nay, công tác quyên góp ủng hộ, hỗ trợ công tác phòng chống dịch Covid-19 vẫn đang được các đơn vị trong toàn hệ thống tích cực triển khai thực hiện, nhằm góp phần tăng thêm nguồn lực cho Chính phủ và các địa phương trong cuộc chiến chống Covid-19.

Thông qua hàng loạt các biện pháp kinh tế và hoạt động an sinh xã hội, cũng như chủ động cắt giảm chi phí hoạt động và giảm lợi nhuận để hỗ trợ cho khách hàng và cộng đồng, cho thấy nỗ lực và quyết tâm rất lớn của Agribank trong việc thực thi và phát huy hiệu quả những chính sách hỗ trợ từ phía ngành Ngân hàng. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm tiên phong của một doanh nghiệp, luôn sẵn sàng chia sẻ, đồng hành, tiếp sức cho người dân, khách hàng vượt qua giai đoạn khó khăn của dịch bệnh Covid-19./.

Bài và ảnh: Nhật Minh

Bài và ảnh: Nhật Minh

Đọc thêm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

Ngân hàng hạ mục tiêu tăng lợi nhuận xuống 13,5%, tín dụng bị “ghìm” bởi tốc độ huy động vốn

(TBTCO) - Cập nhật từ các Đại hội đồng cổ đông, S&I Ratings cho biết, các ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận trước thuế bình quân khoảng 13,5% năm 2026, thấp hơn mức 16% của năm trước, trong bối cảnh bất định đến từ môi trường vĩ mô thế giới. Đáng chú ý, mục tiêu tăng trưởng tín dụng gắn chặt hơn với huy động vốn, tốc độ huy động không theo kịp trở thành yếu tố kìm hãm đà tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.112 đồng sau kỳ nghỉ lễ, tỷ giá USD tự do lùi 60 đồng. DXY đầu tuần quanh 98,17 điểm, trong bối cảnh USD chịu áp lực trước khả năng Nhật Bản can thiệp tỷ giá, tuần này, thị trường tập trung vào đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm Mỹ.
Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

Ngân hàng vào vai “nhà cái”, đón sóng thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Sau 4 năm im ắng, thị trường bảo hiểm có nhiều chuyển động mới với sự xuất hiện của nhiều “tân binh” có hậu thuẫn từ ngân hàng, đặc biệt ở mảng nhân thọ vốn do khối ngoại chi phối. Các nhà băng chủ động rời vai trung gian để tiến tới làm chủ cuộc chơi, qua đó, vừa mở rộng nguồn thu, khai thác tối đa hệ sinh thái, vừa tạo nguồn vốn trung dài hạn ổn định cho tăng trưởng.
Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

Tín dụng "căng dây", cần giải pháp để hóa giải rủi ro

(TBTCO) - Tín dụng mạnh những năm gần đây đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên 146%, đang tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng. Việc “giảm ga” tăng trưởng và kiểm soát rủi ro, trong bối cảnh rủi ro ẩn giấu và thiếu vốn trung dài hạn, yêu cầu tái cấu trúc kênh dẫn vốn trở nên cấp thiết.
Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

Bảo hiểm PVI: Chọn hướng đi mới

(TBTCO) - Quý I/2026, Tổng Công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) đạt tổng doanh thu 8.164 tỷ đồng, hoàn thành 127% kế hoạch quý và tăng trưởng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này không chỉ phản ánh sự phục hồi ổn định của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, mà còn cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt và chiến lược điều hành hiệu quả của Bảo hiểm PVI.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,330 16,630
Kim TT/AVPL 16,330 16,630
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,330 16,630
Nguyên Liệu 99.99 15,220 15,420
Nguyên Liệu 99.9 15,170 15,370
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,100 16,500
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,980 16,430
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,500 166,500
Hà Nội - PNJ 163,500 166,500
Đà Nẵng - PNJ 163,500 166,500
Miền Tây - PNJ 163,500 166,500
Tây Nguyên - PNJ 163,500 166,500
Đông Nam Bộ - PNJ 163,500 166,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,280 16,580
Miếng SJC Nghệ An 16,280 16,580
Miếng SJC Thái Bình 16,280 16,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,633 16,632
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,633 16,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,628 1,658
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,628 1,659
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,608 1,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 156,173 162,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,487 123,387
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,985 111,885
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,483 100,383
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,046 95,946
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,977 6,867
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,633 1,663
Cập nhật: 05/05/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18412 18688 19267
CAD 18827 19105 19719
CHF 32974 33360 34005
CNY 0 3815 3907
EUR 30221 30495 31523
GBP 34898 35291 36228
HKD 0 3232 3434
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15220 15808
SGD 20121 20404 20921
THB 724 788 841
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,147 26,147 26,367
USD(1-2-5) 25,102 - -
USD(10-20) 25,102 - -
EUR 30,457 30,481 31,741
JPY 163.8 164.1 172.92
GBP 35,233 35,328 36,324
AUD 18,657 18,724 19,323
CAD 19,066 19,127 19,711
CHF 33,400 33,504 34,280
SGD 20,317 20,380 21,056
CNY - 3,794 3,914
HKD 3,305 3,315 3,432
KRW 16.61 17.32 18.72
THB 776.29 785.88 836.23
NZD 15,266 15,408 15,772
SEK - 2,815 2,897
DKK - 4,076 4,194
NOK - 2,799 2,880
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,247.44 - 7,009.57
TWD 755.05 - 908.5
SAR - 6,924.04 7,248.01
KWD - 83,925 88,746
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,117 26,147 26,367
EUR 30,310 30,432 31,615
GBP 35,144 35,285 36,298
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,118 33,251 34,195
JPY 163.85 164.51 171.99
AUD 18,625 18,700 19,297
SGD 20,329 20,411 20,996
THB 790 793 828
CAD 19,026 19,102 19,683
NZD 15,299 15,833
KRW 17.16 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26367
AUD 18599 18699 19627
CAD 19005 19105 20122
CHF 33218 33248 34830
CNY 3797.2 3822.2 3958.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30403 30433 32158
GBP 35204 35254 37017
HKD 0 3355 0
JPY 164.26 164.76 175.27
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15330 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20274 20404 21137
THB 0 753.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16330000 16330000 16630000
SBJ 14000000 14000000 16630000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,170 26,220 26,367
USD20 26,170 26,220 26,367
USD1 23,857 26,220 26,367
AUD 18,675 18,775 19,895
EUR 30,581 30,581 32,007
CAD 18,976 19,076 20,395
SGD 20,383 20,533 21,109
JPY 164.81 166.31 170.95
GBP 35,172 35,522 36,405
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,707 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/05/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80