Agribank ủng hộ 2 tỷ đồng quỹ “Vì người nghèo” và an sinh xã hội thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Agribank ủng hộ 2 tỷ đồng cho Quỹ “Vì người nghèo” và an sinh xã hội thành phố Hà Nội năm 2022, với mong muốn chung tay thực hiện mục tiêu hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo.
aa

Tối ngày 11/10/2022, tại Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt - Xô diễn ra Lễ phát động tháng cao điểm “Vì người nghèo” và an sinh xã hội TP. Hà Nội năm 2022” với sự tham dự của đồng chí Đinh Tiến Dũng - Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư thành ủy Hà Nội; đồng chí Trần Sỹ Thanh - Ủy viên TW Đảng, chủ tịch UBND TP. Hà Nội; các đồng chí lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội…; cùng các doanh nghiệp, doanh nhân, các nhà hảo tâm và đông đảo các tầng lớp nhân dân Thủ đô Hà Nội.

Về phía Agribank, có đồng chí Phạm Đức Ấn - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy khối Doanh nghiệp Trung ương, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank, Đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu TP. Hà Nội; đồng chí Phạm Đức Tuấn - Phó Tổng giám đốc, Chủ tịch Công đoàn Agribank và đại diện các chi nhánh Agribank trên địa bàn Hà Nội đến dự.

Agribank ủng hộ 2 tỷ đồng quỹ “Vì người nghèo” và an sinh xã hội thành phố Hà Nội
Đồng chí Phạm Đức Tuấn - Phó Tổng giám đốc, Chủ tịch Công đoàn Agribank trao 2 tỷ đồng cho Quỹ “Vì người nghèo”.

Phát biểu khai mạc, Phó Chủ tịch UBND thành phố Chử Xuân Dũng khẳng định, những năm qua, TP. Hà Nội luôn ưu tiên nguồn lực để bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững. Thành ủy Hà Nội khóa XVII đã ban hành Chương trình số 08-CTr/TU về “Phát triển hệ thống an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của nhân dân Thủ đô giai đoạn 2021 - 2025”.

Trong bối cảnh đại dịch năm 2020 - 2021, mặc dù gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19 gây ra, TP. Hà Nội đã kịp thời ban hành và triển khai có hiệu quả nhiều chính sách đặc thù thực hiện mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững giúp người dân, doanh nghiệp từng bước ổn định đời sống và phục hồi sản xuất kinh doanh, lấy lại đà tăng trưởng. Tổng nguồn lực thành phố dành cho các chính sách đặc thù hỗ trợ giảm nghèo và an sinh xã hội là trên 10.640 tỷ đồng.

Tại lễ phát động đã diễn ra các hoạt động: Phát động ủng hộ Quỹ "Vì người nghèo”; trao kinh phí hỗ trợ xây dựng nhà đại đoàn kết, sinh kế cho hộ nghèo; tuyên dương các tập thể, cá nhân tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho công tác giảm nghèo và an sinh xã hội; biểu dương các hộ gia đình nỗ lực vươn lên thoát nghèo tiêu biểu.

Nhân dịp này, Agribank tham gia ủng hộ 2 tỷ đồng cho Quỹ “Vì người nghèo” và an sinh xã hội TP. Hà Nội năm 2022 với mong muốn chung tay thực hiện mục tiêu hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo, trao sinh kế, tạo giá đỡ an sinh, giúp người nghèo có cơ hội thay đổi cuộc đời và có cuộc sống tốt hơn, góp phần thực hiện thành công chủ trương của Đảng và Nhà nước về công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng và đổi mới đất nước.

Agribank ủng hộ 2 tỷ đồng quỹ “Vì người nghèo” và an sinh xã hội thành phố Hà Nội
Ban tổ chức trao biểu trưng cho các nhà hảo tâm tiêu biểu.

Ngoài các giải pháp kinh tế giúp doanh nghiệp và người dân có vốn khắc phục khó khăn vượt qua đại dịch, phát triển kinh tế, Agribank luôn tích cực thể hiện trách nhiệm với cộng đồng thông qua các chương trình an sinh xã hội trên cả nước, xem đây là truyền thống và cũng là nét đẹp văn hóa của Agribank mà các thế hệ cán bộ viên chức người lao động Agribank xây dựng và gìn giữ trong suốt chặng đường hơn 34 năm trưởng thành và phát triển.

Hàng năm Agribank đều dành từ 300 - 400 tỷ đồng để thực hiện nhiều chương trình an sinh xã hội, tập trung vào các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, tài trợ giáo dục, y tế, giao thông nông thôn, quan tâm chia sẻ và hỗ trợ người nghèo, đồng bào vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn và giảm thiểu thiệt hại thiên tai dịch bệnh, hướng về biển đảo quê hương…

Năm 2021, Agribank đã dành hơn 553 tỷ đồng cho hoạt động an sinh xã hội, trọng tâm là hỗ trợ Quỹ vắc-xin phòng chống Covid-19 và ủng hộ các tỉnh, thành phố, bệnh viện tuyến đầu tại các địa phương trên cả nước trong công tác phòng, chống dịch. Trong năm 2022, Agribank dự kiến sẽ dành khoảng 600 tỷ đồng để triển khai các hoạt động an sinh xã hội trên khắp các tỉnh, thành cả nước.

Với những đóng góp tích cực cùng ngành ngân hàng, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trong nhiều năm qua, Agribank được ghi nhận là ngân hàng vì cộng đồng; doanh nghiệp có thành tích xuất sắc phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong thời kỳ đổi mới; doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và phát triển cộng đồng; “Ngân hàng thực hiện tốt trách nhiệm xã hội khu vực Đông Nam Á” do tổ chức Asian banking & Finance trao tặng.
Văn Tuấn

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

(TBTCO) - Sáng ngày 27/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.113 đồng, đi ngang do trùng kỳ nghỉ lễ, trong khi DXY nhích tăng nhẹ lên 98,61 điểm. Đồng USD tăng nhẹ khi đàm phán Mỹ - Iran chưa tiến triển, làm dấy lên lo ngại lạm phát và khiến kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất năm 2026 suy yếu, trong bối cảnh thị trường chờ loạt dữ liệu và quyết sách quan trọng tuần này.
“Trọn Lễ an vui”: Bảo Việt Nhân thọ tri ân khách hàng dịp Lễ giỗ Tổ và 30/4 – 1/5 với 4.400 quà tặng ý nghĩa

“Trọn Lễ an vui”: Bảo Việt Nhân thọ tri ân khách hàng dịp Lễ giỗ Tổ và 30/4 – 1/5 với 4.400 quà tặng ý nghĩa

(TBTCO) - Dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ và 30/4 - 1/5 là thời điểm nhiều gia đình Việt lên kế hoạch nghỉ ngơi, du lịch và đồng thời cân nhắc các giải pháp bảo vệ tài chính, sức khỏe cho tương lai. Việc chuẩn bị vững vàng từ sớm đang trở thành xu hướng giúp các gia đình chủ động hơn trước những biến động trong cuộc sống.
ACB lãi quý I/2026 hơn 5.300 tỷ đồng, dư nợ tín dụng vượt 700 nghìn tỷ đồng

ACB lãi quý I/2026 hơn 5.300 tỷ đồng, dư nợ tín dụng vượt 700 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 5.368 tỷ đồng, tăng 16,8% cùng kỳ và 55% so với quý trước, nhờ cải thiện đồng thời các nguồn thu cốt lõi. Dư nợ tín dụng đạt 711 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%; tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,97%.
Đại hội đồng cổ đông VietABank: Đưa dư nợ tín dụng vượt 100.000 tỷ đồng, dồn lực tăng vốn hơn 55%

Đại hội đồng cổ đông VietABank: Đưa dư nợ tín dụng vượt 100.000 tỷ đồng, dồn lực tăng vốn hơn 55%

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18,2%, cùng tăng trưởng tín dụng 14,5% lên 101.633 tỷ đồng. Ngân hàng đẩy mạnh chuyển đổi số, tái cấu trúc danh mục cho vay nhằm nâng cao hiệu quả. Đồng thời, kế hoạch tăng vốn điều lệ hơn 55% lên 12.688 tỷ đồng được kỳ vọng tạo bệ phóng cho chu kỳ tăng trưởng mới.
Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức "khủng" 67%, kiểm soát nợ xấu bất động sản dưới 1%

Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức "khủng" 67%, kiểm soát nợ xấu bất động sản dưới 1%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng hai kịch bản kinh doanh 2026, đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tối đa 37.500 tỷ đồng; đồng thời kiểm soát nợ xấu dưới 1,5-2%. Lãnh đạo Techcombank cho biết, với lĩnh vực bất động sản, nợ xấu vẫn duy trì dưới 1% dù tỷ trọng cho vay cao. Ngân hàng dự kiến chia cổ tức tiền mặt 7%, phát hành cổ phiếu tỷ lệ 60%, nâng vốn điều lệ lên 113.738 tỷ đồng, dẫn đầu hệ thống.
VietBank dự kiến lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 2.100 tỷ đồng, niêm yết trên HOSE quý II/2026

VietBank dự kiến lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 2.100 tỷ đồng, niêm yết trên HOSE quý II/2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank, mã ck: VBB) vừa tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026, thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 15.500 tỷ đồng, mục tiêu kinh doanh năm 2026 và các định hướng phát triển dài hạn.
Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

(TBTCO) - Sáng ngày 25/4, tỷ giá trung tâm chốt phiên cuối tuần ở mức 25.113 đồng, tăng tổng cộng 11 đồng tuần qua, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng tuần qua lên 26.670 - 26.700 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY chốt tuần quanh 98,5 điểm, giảm nhẹ phiên gần nhất song tăng 0,76% tuần qua, phản ánh trạng thái giằng co do USD vẫn được hỗ trợ bởi rủi ro địa chính trị và chính sách thận trọng của Fed.
Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

(TBTCO) - Khung pháp lý mới đang mở rộng dư địa đầu tư, cùng các ưu đãi thuế tiếp tục tăng sức hấp dẫn của quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Kinh nghiệm từ mô hình 401(k) tại Mỹ cho thấy, quỹ hưu trí không chỉ là “tấm đệm” tài chính cho người lao động khi về hưu, mà còn là “mạch vốn” bền bỉ, tạo lực đỡ phát triển thị trường vốn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,630 16,880
Kim TT/AVPL 16,630 16,880
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,580 16,880
Nguyên Liệu 99.99 15,540 15,740
Nguyên Liệu 99.9 15,490 15,690
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,340 16,740
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,290 16,690
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,220 16,670
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,800 168,800
Hà Nội - PNJ 165,800 168,800
Đà Nẵng - PNJ 165,800 168,800
Miền Tây - PNJ 165,800 168,800
Tây Nguyên - PNJ 165,800 168,800
Đông Nam Bộ - PNJ 165,800 168,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,630 16,880
Miếng SJC Nghệ An 16,630 16,880
Miếng SJC Thái Bình 16,630 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,580 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,580 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,580 16,880
NL 99.90 15,400
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450
Trang sức 99.9 16,070 16,770
Trang sức 99.99 16,080 16,780
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,663 16,882
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,663 16,883
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,658 1,683
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,658 1,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,638 1,668
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 158,649 165,149
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 116,363 125,263
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 104,685 113,585
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,008 101,908
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,504 97,404
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,813 69,713
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Cập nhật: 28/04/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18312 18588 19173
CAD 18749 19027 19644
CHF 32913 33298 33949
CNY 0 3814 3907
EUR 30248 30522 31561
GBP 34857 35250 36193
HKD 0 3233 3436
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15183 15771
SGD 20111 20394 20921
THB 729 792 847
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26180 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,326 30,350 31,616
JPY 160.92 161.21 169.94
GBP 34,927 35,022 36,021
AUD 18,473 18,540 19,130
CAD 18,909 18,970 19,555
CHF 33,138 33,241 34,016
SGD 20,235 20,298 20,977
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.39 17.09 18.5
THB 775.36 784.94 836.32
NZD 15,112 15,252 15,610
SEK - 2,804 2,886
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,779 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.5 - 6,984.19
TWD 756.54 - 911.21
SAR - 6,923.57 7,250.83
KWD - 83,846 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26226 26226 26368
AUD 18443 18543 19469
CAD 18902 19002 20013
CHF 33092 33122 34705
CNY 3795.3 3820.3 3955.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30352 30382 32107
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.53
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15233 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20240 20370 21102
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16600000 16600000 16900000
SBJ 15000000 15000000 16900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,148 26,138 26,368
USD20 26,148 26,138 26,368
USD1 26,148 26,138 26,368
AUD 18,465 18,565 19,703
EUR 30,463 30,463 31,927
CAD 18,821 18,921 20,264
SGD 20,290 20,440 21,130
JPY 161.74 163.24 168.09
GBP 34,871 35,221 36,141
XAU 16,618,000 0 16,872,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/04/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80