ACB lãi quý I/2026 hơn 5.300 tỷ đồng, dư nợ tín dụng vượt 700 nghìn tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 5.368 tỷ đồng, tăng 16,8% cùng kỳ và 55% so với quý trước, nhờ cải thiện đồng thời các nguồn thu cốt lõi. Dư nợ tín dụng đạt 711 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%; tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,97%.
aa

ACB vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, củng cố “bộ đệm” cho chu kỳ phát triển bền vững
Đại hội đồng cổ đông ACB: Lãnh đạo ACB lý giải chiến lược “ngược dòng”, đặt mục tiêu lãi vượt 22.000 tỷ đồng

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB - mã Ck: ACB) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2026.

Báo cáo tài chính do ACB công bố cho thấy, lợi nhuận trước thuế quý I/2026 của ACB đạt 5.368 tỷ đồng, tăng 55% so với quý trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ, tương ứng tăng 771 tỷ đồng, chủ yếu đến từ sự cải thiện đồng thời của nhiều nguồn thu cốt lõi. Đồng thời, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của ngân hàng sau giai đoạn chủ động gia tăng trích lập dự phòng trong quý IV/2025.

Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần đạt 6.989 tỷ đồng, tăng 630 tỷ đồng, tương ứng tăng 9,9% cùng kỳ. Bên cạnh đó, lãi thuần từ dịch vụ đạt 993 tỷ đồng, tăng 13,9%. Trong đó, phí hoa hồng bảo hiểm tăng 7%; các nguồn thu phí cốt lõi tiếp tục bứt phá với phí dịch vụ tài khoản tăng gấp ba lần, phí thanh toán quốc tế tăng 22% và phí bảo lãnh tăng 32%, khẳng định hiệu quả chiến lược phát triển thu nhập ngoài lãi.

Cùng với đó, lãi từ kinh doanh ngoại hối và vàng đạt 483 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,5%. Đáng chú ý, lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh tăng mạnh 162 tỷ đồng, gấp gần 8 lần cùng kỳ lên 186 tỷ đồng.

Tổng thu nhập hoạt động đạt 8.904,7 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ, với thu nhập lãi tăng 10% và thu nhập ngoài lãi tăng 23%, cho thấy cấu trúc thu nhập ngày càng cân bằng. Trong khi đó, chi phí hoạt động chỉ tăng 5,9%, lên 2.692 tỷ đồng, cho thấy khả năng kiểm soát chi phí hiệu quả.

Trong quý I/2026, ngân hàng tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng thêm 9,6%, lên 686 tỷ đồng. Nhìn chung, tăng trưởng lợi nhuận của ACB được hỗ trợ bởi đà tăng thu nhập ổn định cùng việc tối ưu chi phí và không ngừng củng cố nền tảng tài chính an toàn.

ACB lãi quý I/2026 hơn 5.300 tỷ đồng, dư nợ tín dụng vượt 700 nghìn tỷ đồng
Đồ họa: Ánh Tuyết.
Kết thúc quý I/2026, dư nợ tín dụng của ACB đạt 711 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với đầu năm, cao hơn mức tăng trưởng cùng kỳ. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ phân khúc khách hàng doanh nghiệp, với mức tăng 6%, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như thương mại, chế biến chế tạo. Đáng chú ý, cho vay doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI tiếp tục là điểm sáng, với mức tăng trưởng lần lượt 15% và 43% so với đầu năm.

Chia sẻ về kết quả kinh doanh quý I/2026, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, trong bối cảnh môi trường kinh doanh còn nhiều thách thức, kết quả đạt được cho thấy khả năng thích ứng và sức bền trong mô hình hoạt động của ACB.

“Chúng tôi kiên định với định hướng tăng trưởng thận trọng, củng cố chất lượng tài sản và hiệu quả vận hành, xem đây là nền tảng để sẵn sàng nắm bắt cơ hội khi chu kỳ thị trường thuận lợi hơn” - lãnh đạo ACB nhấn mạnh.

Bên cạnh giữ đà tăng về lợi nhuận, kết quả kinh doanh quý I/2026 còn tiếp tục khẳng định vị thế trong nhóm các ngân hàng có chất lượng tài sản và năng lực quản trị rủi ro hàng đầu thị trường.

Theo đó, tổng tài sản của ACB tiếp tục gia tăng sau khi vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, đạt 1,03 triệu tỷ đồng, khẳng định quy mô và nền tảng tăng trưởng vững chắc.

Cơ cấu tài sản duy trì lành mạnh với 97% là tài sản sinh lời, tạo điều kiện tối ưu hiệu quả sử dụng vốn, duy trì khả năng sinh lời ổn định, nâng cao tính linh hoạt trong điều hành và củng cố sức chống chịu trước biến động thị trường.

Song hành với mở rộng hoạt động kinh doanh, năng lực quản trị rủi ro và kỷ luật an toàn của ACB tiếp tục được khẳng định rõ nét. Tại thời điểm cuối quý I/2026, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,97%, với quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 đạt 6.856,6 tỷ đồng, tăng nhẹ 2,8% so với cuối năm 2025, nhưng giảm sâu 22,5% cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) duy trì ở mức cao 114%, phản ánh chiến lược tăng trưởng thận trọng, chủ động và hiệu quả.

Song song đó, ACB tiếp tục duy trì kỷ luật chặt chẽ trong quản trị thanh khoản và an toàn vốn, qua đó, tạo dư địa vững chắc cho tăng trưởng trong trung và dài hạn. Theo đại diện ACB, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức khoảng 24,9%, thấp hơn đáng kể so với ngưỡng quy định của Ngân hàng Nhà nước, cho thấy cấu trúc nguồn vốn an toàn và linh hoạt.

Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) được kiểm soát ở mức 81%, thấp hơn mức trần 85%. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) hợp nhất đạt 12,6%, cải thiện so với cuối năm 2025 và vượt xa mức quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Hướng tới mục tiêu trở thành tập đoàn tài chính hiệu quả vào năm 2030, ACB tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động toàn tập đoàn và phát huy vai trò của các công ty thành viên.

Theo đại diện ACB, trong quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của các công ty con tăng 2,6 lần so với cùng kỳ, nâng tỷ lệ đóng góp vào lợi nhuận hợp nhất lên 8%. Nổi bật là Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS) đạt lợi nhuận trước thuế 306 tỷ đồng, tăng 74% so với cùng kỳ, trong khi các công ty thành viên khác như Công ty TNHH Quản lý nợ và khai thác tài sản ACB (ACBA), Công ty TNHH MTV Cho thuê tài chính ACB (ACB Leasing) và Công ty TNHH MTV Quản lý Quỹ ACB (ACBC) cũng ghi nhận tăng trưởng, đóng góp tích cực vào bức tranh tài chính hợp nhất của tập đoàn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

(TBTCO) - Ngày 10/6/2026, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 và phát động Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2026. Từ hơn 1.000 tác phẩm dự thi, Ban Giám khảo đã lựa chọn và trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc. Trong đó, Báo Tài chính - Đầu tư ghi dấu ấn với 5 tác phẩm đoạt giải.
Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

(TBTCO) - Igloo - công ty công nghệ bảo hiểm (insurtech) ứng dụng AI toàn diện (AI full stack) tại Đông Nam Á, chuyên phát triển nền tảng vận hành cho ngành bảo hiểm vừa công bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ PT Chubb Indonesia (gọi chung là “Chubb Life”). Theo đó, các giải pháp bảo hiểm của Chubb Life sẽ được cung cấp tại Việt Nam và Indonesia thông qua Ignite by Igloo - nền tảng số phân phối bảo hiểm của Igloo.
Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Chênh lệch giữa tỷ giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đang thu hẹp nhanh chóng sau giai đoạn căng thẳng đầu năm.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80