Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức "khủng" 67%, kiểm soát nợ xấu bất động sản dưới 1%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng hai kịch bản kinh doanh 2026, đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tối đa 37.500 tỷ đồng; đồng thời kiểm soát nợ xấu dưới 1,5-2%. Lãnh đạo Techcombank cho biết, với lĩnh vực bất động sản, nợ xấu vẫn duy trì dưới 1% dù tỷ trọng cho vay cao. Ngân hàng dự kiến chia cổ tức tiền mặt 7%, phát hành cổ phiếu tỷ lệ 60%, nâng vốn điều lệ lên 113.738 tỷ đồng, dẫn đầu hệ thống.
aa
Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ Techcombank rót thêm tối đa 800 tỷ đồng vào Techcom Life, tăng tốc mảng bảo hiểm nhân thọ Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Phấn đấu lãi 37.500 tỷ đồng, tăng vốn vượt 110.000 tỷ đồng

Ngày 25/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank - mã Ck: TCB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026. Vào lúc 9h10, có 266 cổ đông và người được ủy quyền tham dự, đại diện cho 5,39 tỷ cổ phần, tương ứng 76% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

đại hội đồng cổ đông Techcombank
Techcombank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026.

Tại báo cáo về hoạt động kinh doanh năm 2025, kế hoạch năm 2026, ban lãnh đạo Techcombank đánh giá, môi trường kinh doanh năm 2026 tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định. Trong bối cảnh đó, Techcombank đã xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm linh hoạt điều hành, chủ động ứng phó với các điều kiện thị trường khác nhau, với mục tiêu và kế hoạch cụ thể.

Theo đó, ở kịch bản 1, khi xung đột tại Iran sớm được giải quyết, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 37.500 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2025. Dư nợ tín dụng dự kiến đạt 849.000 tỷ đồng theo hạn mức được Ngân hàng Nhà nước cấp. Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 1,5%.

Ở kịch bản 2, khi xung đột kéo dài và tác động kinh tế dai dẳng, Techcombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng, tăng 7,6%. Đồng thời, kiểm soát nợ xấu dưới 2%; các chỉ tiêu còn lại giữ tương tự kịch bản cơ sở.

Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức
Nguồn: Techcombank.

Phát biểu tại ĐHĐCĐ, ông Jens Lottner - Tổng giám đốc Techcombank nêu rõ, mục tiêu Việt Nam hướng tới trở thành nền kinh tế thu nhập cao dựa trên đổi mới sáng tạo vào năm 2045, với quỹ đạo tăng trưởng GDP khoảng 10%. Để đạt được điều này, trọng tâm nằm ở 4 Nghị quyết trụ cột. Bên cạnh đó, hiện Việt Nam có khoảng 1 triệu doanh nghiệp, mục tiêu nâng lên 2 triệu doanh nghiệp để phù hợp với tốc độ tăng trưởng cao, trong đó, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) sẽ cần các dịch vụ tài chính đa dạng hơn, đặc biệt là vốn.

Cũng theo ông Jens Lottner, trong bối cảnh toàn cầu vẫn nhiều bất định, với các rủi ro địa chính trị tại khu vực eo biển Hormuz và những kịch bản khó lường, dù xác suất xảy ra chưa cao, nhưng có thể làm thay đổi triển vọng kinh tế. Với hạn mức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước cấp, trong kịch bản cơ sở, lợi nhuận dự kiến Techcombank có thể đạt khoảng 37,5 nghìn tỷ đồng.

Để phát huy những lợi thế sẵn có và tận dụng cơ hội, Techcombank tiếp tục xây dựng chiến lược giai đoạn 5 năm mới, hứa hẹn những mốc son mới trong hành trình từ ngân hàng dẫn đầu trong nước đến hệ sinh thái toàn diện mang tầm vóc quốc tế với 3 trọng tâm chiến lược cho năm 2026.

Sau hai đợt phát hành, vốn điều lệ dự kiến tăng từ 70.862 tỷ đồng lên 113.738 tỷ đồng, cao hơn đáng kể phương án trước đó (71.032 tỷ đồng) và đứng đầu hệ thống ngân hàng tính đến thời điểm hiện tại. Tốc độ tăng vốn điều lệ trên 60%, tương đương mức tăng 42.876 tỷ đồng.

Về phương án phân phối lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế và trích lập các quỹ đến cuối năm 2025 đạt 45.854 tỷ đồng.

Thay vì phương án không chia cổ tức trước đó, ngay trước thềm đại hội, HĐQT Techcombank trình ĐHĐCĐ phương án chia cổ tức tiền mặt tỷ lệ 7% (700 đồng/cổ phiếu), với tổng số tiền dự kiến chi trả khoảng 4.960 tỷ đồng. Thời điểm chi trả dự kiến trong quý II - III/2026, do HĐQT quyết định.

Trước đó, Techcombank đã chi cổ tức tiền mặt 15% năm 2024 và 10% năm 2025, sau 10 năm giữ lại lợi nhuận.

Đáng chú ý, Techcombank trình phương án tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và ESOP.

Cụ thể, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 4,28 tỷ cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (tỷ lệ 60%), qua đó, tăng vốn thêm 42.517 tỷ đồng. Đồng thời, phát hành hơn 35,8 triệu cổ phiếu ESOP (mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu), tăng thêm 358,7 tỷ đồng, với thời gian hạn chế chuyển nhượng 1 năm.

Tính “đổ vốn” vào hạ tầng, lấn sân tài sản mã hóa

Tại ĐHĐCĐ, các cổ đông tập trung chất vấn nhiều nhóm vấn đề chính về tác động của định hướng kiểm soát lãi suất, thanh khoản và khả năng đáp ứng các chuẩn an toàn như Basel III của Techcombank; rủi ro tín dụng, đặc biệt với tỷ trọng cho vay và tài sản đảm bảo liên quan bất động sản ở mức cao; định hướng cấp tín dụng cho các dự án lớn, hạ tầng, cũng như liên quan các đối tác lớn. Cổ đông cũng quan tâm về chiến lược tăng trưởng và động lực mới, đặc biệt với các mảng kinh doanh mới về tài sản mã hóa, crypto; kế hoạch bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài...

Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức khủng 67%, kiểm soát nợ xấu bất động sản dưới 1%
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Thông tin tới cổ đông về việc cho vay lĩnh vực bất động sản, ông Jens Lottner - Tổng giám đốc Techcombank cho biết, đây là vấn đề được nhiều cổ đông quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu đa dạng hóa danh mục. Tuy nhiên, dù danh mục tín dụng có tỷ trọng lớn ở bất động sản, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng vẫn duy trì ở mức rất thấp. Đồng thời, nếu xét thêm tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR), ngân hàng hiện nằm trong nhóm tốt trên hệ thống, ngay cả khi tỷ trọng cho vay bất động sản ở mức cao.

Ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Techcombank nêu rõ, nợ xấu với lĩnh vực bất động sản ở cả phân khúc khách hàng cá nhân và doanh nghiệp luôn luôn nằm ở mức dưới 1% và thực tế, Techcombank thu hồi toàn bộ 100% giá trị khoản vay, ít nhất là nợ gốc, kể cả khoản vay đó có thể rơi vào nợ xấu sau 2 - 3 năm. Ngân hàng vẫn giữ quan điểm thận trọng, phân bổ danh mục tài sản phù hợp với chiến lược phát triển dài hạn.

Bổ sung thêm, ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Techcombank nhấn mạnh, lĩnh vực bất động sản là một trong những lĩnh vực đã và đang đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong nhiều năm qua và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thời gian tới, vấn đề cốt lõi là kiểm soát rủi ro như thế nào.

Theo Chủ tịch Techcombank, về rủi ro tín dụng, Techcombank chỉ lựa chọn tài trợ các dự án có thanh khoản tốt, pháp lý đầy đủ, đồng thời tập trung vào các khách hàng chất lượng, cả doanh nghiệp và cá nhân.

“Techcombank không cho vay những dự án hay tài trợ những dự án pháp lý không đầy đủ, cũng như không tài trợ những dự án có thể rủi ro về mặt thanh khoản” - ông Hùng Anh nhấn mạnh.

Dù cơ quan quản lý phát đi tín hiệu giới hạn tín dụng lĩnh vực này, lãnh đạo Techcombank vẫn đánh giá đây là lĩnh vực còn nhiều tiềm năng trong 5 - 10 năm tới, với trọng tâm vẫn là kiểm soát rủi ro hiệu quả. Song song, trong năm 2026, ngân hàng cân nhắc mở rộng sang lĩnh vực đầu tư hạ tầng, đây là lĩnh vực được kỳ vọng tăng trưởng mạnh nhờ định hướng ưu tiên của Chính phủ và thúc đẩy giải ngân đầu tư công.

Đối với sản phẩm “Sinh lời tự động”, lãnh đạo Techcombank nhấn mạnh, ngân hàng đã rà soát đầy đủ và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật. Đồng thời đặt tiêu chí an toàn và lợi ích khách hàng lên hàng đầu, coi đây là nguyên tắc cốt lõi.

Về việc “lấn sân” lĩnh vực tài sản mã hóa, Tổng giám đốc Techcombank cho biết, ngân hàng tuân thủ chặt chẽ các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Dù các quy định còn mang tính thận trọng, Techcombank nhấn mạnh các nền tảng giao dịch được nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm với nền tảng kỹ thuật và quản trị rủi ro vững chắc./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 16/09/2026, tại Hà Nội, Lễ ký kết Hợp tác chiến lược toàn diện giữa Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai (Xuân Mai Corp) và Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) - Chi nhánh Thăng Long và Chi nhánh Hà Nội đã diễn ra thành công tốt đẹp. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng, nâng tầm mối quan hệ hợp tác gắn bó suốt nhiều năm qua trở thành đối tác chiến lược sâu rộng, mở ra hành trình bứt phá mạnh mẽ cho cả hai bên trong tương lai.
ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

(TBTCO) - Ngày 17/9/2026 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được trao giải “Giao dịch tài trợ thương mại tốt nhất dành cho doanh nghiệp SME” (Best SME Deal of the Year) tại Lễ trao giải lần thứ 12 của Chương trình Tài trợ Thương mại và Chuỗi cung ứng (Trade and Supply Chain Finance Program - TSCFP), thuộc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), được tổ chức vào ngày 10/9/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲130K 14,670 ▲130K
Trang sức 99.99 14,080 ▲130K 14,680 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 ▲18K 14,762 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 ▲18K 14,763 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 ▲18K 1,471 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 ▲18K 1,472 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▲18K 1,461 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 ▲1782K 144,653 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 ▲1350K 109,736 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 ▲1224K 99,508 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 ▼70434K 8,928 ▼79254K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 ▲1050K 85,335 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 ▼45401K 6,108 ▼54221K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cập nhật: 18/09/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18001 18275 18850
CAD 18049 18324 18942
CHF 30890 31267 31918
CNY 0 3841 3936
EUR 29233 29453 30530
GBP 33968 34358 35292
HKD 0 3184 3387
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14561 15152
SGD 19822 20104 20681
THB 696 759 813
USD (1,2) 25744 0 0
USD (5,10,20) 25783 0 0
USD (50,100) 25811 25825 26192
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26180
AUD 18150 18250 19175
CAD 18230 18330 19346
CHF 31116 31146 32719
CNY 3819.9 3844.9 3980.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29389 29419 31144
GBP 34223 34273 36025
HKD 0 3305 0
JPY 162.79 163.29 173.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14663 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19998 20128 20851
THB 0 726.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30