Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức "khủng" 67%, kiểm soát nợ xấu bất động sản dưới 1%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Techcombank xây dựng hai kịch bản kinh doanh 2026, đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tối đa 37.500 tỷ đồng; đồng thời kiểm soát nợ xấu dưới 1,5-2%. Lãnh đạo Techcombank cho biết, với lĩnh vực bất động sản, nợ xấu vẫn duy trì dưới 1% dù tỷ trọng cho vay cao. Ngân hàng dự kiến chia cổ tức tiền mặt 7%, phát hành cổ phiếu tỷ lệ 60%, nâng vốn điều lệ lên 113.738 tỷ đồng, dẫn đầu hệ thống.
aa
Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ Techcombank rót thêm tối đa 800 tỷ đồng vào Techcom Life, tăng tốc mảng bảo hiểm nhân thọ Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Phấn đấu lãi 37.500 tỷ đồng, tăng vốn vượt 110.000 tỷ đồng

Ngày 25/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank - mã Ck: TCB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026. Vào lúc 9h10, có 266 cổ đông và người được ủy quyền tham dự, đại diện cho 5,39 tỷ cổ phần, tương ứng 76% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

đại hội đồng cổ đông Techcombank
Techcombank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026.

Tại báo cáo về hoạt động kinh doanh năm 2025, kế hoạch năm 2026, ban lãnh đạo Techcombank đánh giá, môi trường kinh doanh năm 2026 tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định. Trong bối cảnh đó, Techcombank đã xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm linh hoạt điều hành, chủ động ứng phó với các điều kiện thị trường khác nhau, với mục tiêu và kế hoạch cụ thể.

Theo đó, ở kịch bản 1, khi xung đột tại Iran sớm được giải quyết, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 37.500 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2025. Dư nợ tín dụng dự kiến đạt 849.000 tỷ đồng theo hạn mức được Ngân hàng Nhà nước cấp. Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 1,5%.

Ở kịch bản 2, khi xung đột kéo dài và tác động kinh tế dai dẳng, Techcombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng, tăng 7,6%. Đồng thời, kiểm soát nợ xấu dưới 2%; các chỉ tiêu còn lại giữ tương tự kịch bản cơ sở.

Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức
Nguồn: Techcombank.

Phát biểu tại ĐHĐCĐ, ông Jens Lottner - Tổng giám đốc Techcombank nêu rõ, mục tiêu Việt Nam hướng tới trở thành nền kinh tế thu nhập cao dựa trên đổi mới sáng tạo vào năm 2045, với quỹ đạo tăng trưởng GDP khoảng 10%. Để đạt được điều này, trọng tâm nằm ở 4 Nghị quyết trụ cột. Bên cạnh đó, hiện Việt Nam có khoảng 1 triệu doanh nghiệp, mục tiêu nâng lên 2 triệu doanh nghiệp để phù hợp với tốc độ tăng trưởng cao, trong đó, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) sẽ cần các dịch vụ tài chính đa dạng hơn, đặc biệt là vốn.

Cũng theo ông Jens Lottner, trong bối cảnh toàn cầu vẫn nhiều bất định, với các rủi ro địa chính trị tại khu vực eo biển Hormuz và những kịch bản khó lường, dù xác suất xảy ra chưa cao, nhưng có thể làm thay đổi triển vọng kinh tế. Với hạn mức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước cấp, trong kịch bản cơ sở, lợi nhuận dự kiến Techcombank có thể đạt khoảng 37,5 nghìn tỷ đồng.

Để phát huy những lợi thế sẵn có và tận dụng cơ hội, Techcombank tiếp tục xây dựng chiến lược giai đoạn 5 năm mới, hứa hẹn những mốc son mới trong hành trình từ ngân hàng dẫn đầu trong nước đến hệ sinh thái toàn diện mang tầm vóc quốc tế với 3 trọng tâm chiến lược cho năm 2026.

Sau hai đợt phát hành, vốn điều lệ dự kiến tăng từ 70.862 tỷ đồng lên 113.738 tỷ đồng, cao hơn đáng kể phương án trước đó (71.032 tỷ đồng) và đứng đầu hệ thống ngân hàng tính đến thời điểm hiện tại. Tốc độ tăng vốn điều lệ trên 60%, tương đương mức tăng 42.876 tỷ đồng.

Về phương án phân phối lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế và trích lập các quỹ đến cuối năm 2025 đạt 45.854 tỷ đồng.

Thay vì phương án không chia cổ tức trước đó, ngay trước thềm đại hội, HĐQT Techcombank trình ĐHĐCĐ phương án chia cổ tức tiền mặt tỷ lệ 7% (700 đồng/cổ phiếu), với tổng số tiền dự kiến chi trả khoảng 4.960 tỷ đồng. Thời điểm chi trả dự kiến trong quý II - III/2026, do HĐQT quyết định.

Trước đó, Techcombank đã chi cổ tức tiền mặt 15% năm 2024 và 10% năm 2025, sau 10 năm giữ lại lợi nhuận.

Đáng chú ý, Techcombank trình phương án tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và ESOP.

Cụ thể, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 4,28 tỷ cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (tỷ lệ 60%), qua đó, tăng vốn thêm 42.517 tỷ đồng. Đồng thời, phát hành hơn 35,8 triệu cổ phiếu ESOP (mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu), tăng thêm 358,7 tỷ đồng, với thời gian hạn chế chuyển nhượng 1 năm.

Tính “đổ vốn” vào hạ tầng, lấn sân tài sản mã hóa

Tại ĐHĐCĐ, các cổ đông tập trung chất vấn nhiều nhóm vấn đề chính về tác động của định hướng kiểm soát lãi suất, thanh khoản và khả năng đáp ứng các chuẩn an toàn như Basel III của Techcombank; rủi ro tín dụng, đặc biệt với tỷ trọng cho vay và tài sản đảm bảo liên quan bất động sản ở mức cao; định hướng cấp tín dụng cho các dự án lớn, hạ tầng, cũng như liên quan các đối tác lớn. Cổ đông cũng quan tâm về chiến lược tăng trưởng và động lực mới, đặc biệt với các mảng kinh doanh mới về tài sản mã hóa, crypto; kế hoạch bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài...

Đại hội đồng cổ đông Techcombank: Chia cổ tức khủng 67%, kiểm soát nợ xấu bất động sản dưới 1%
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Thông tin tới cổ đông về việc cho vay lĩnh vực bất động sản, ông Jens Lottner - Tổng giám đốc Techcombank cho biết, đây là vấn đề được nhiều cổ đông quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu đa dạng hóa danh mục. Tuy nhiên, dù danh mục tín dụng có tỷ trọng lớn ở bất động sản, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng vẫn duy trì ở mức rất thấp. Đồng thời, nếu xét thêm tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR), ngân hàng hiện nằm trong nhóm tốt trên hệ thống, ngay cả khi tỷ trọng cho vay bất động sản ở mức cao.

Ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Techcombank nêu rõ, nợ xấu với lĩnh vực bất động sản ở cả phân khúc khách hàng cá nhân và doanh nghiệp luôn luôn nằm ở mức dưới 1% và thực tế, Techcombank thu hồi toàn bộ 100% giá trị khoản vay, ít nhất là nợ gốc, kể cả khoản vay đó có thể rơi vào nợ xấu sau 2 - 3 năm. Ngân hàng vẫn giữ quan điểm thận trọng, phân bổ danh mục tài sản phù hợp với chiến lược phát triển dài hạn.

Bổ sung thêm, ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Techcombank nhấn mạnh, lĩnh vực bất động sản là một trong những lĩnh vực đã và đang đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong nhiều năm qua và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thời gian tới, vấn đề cốt lõi là kiểm soát rủi ro như thế nào.

Theo Chủ tịch Techcombank, về rủi ro tín dụng, Techcombank chỉ lựa chọn tài trợ các dự án có thanh khoản tốt, pháp lý đầy đủ, đồng thời tập trung vào các khách hàng chất lượng, cả doanh nghiệp và cá nhân.

“Techcombank không cho vay những dự án hay tài trợ những dự án pháp lý không đầy đủ, cũng như không tài trợ những dự án có thể rủi ro về mặt thanh khoản” - ông Hùng Anh nhấn mạnh.

Dù cơ quan quản lý phát đi tín hiệu giới hạn tín dụng lĩnh vực này, lãnh đạo Techcombank vẫn đánh giá đây là lĩnh vực còn nhiều tiềm năng trong 5 - 10 năm tới, với trọng tâm vẫn là kiểm soát rủi ro hiệu quả. Song song, trong năm 2026, ngân hàng cân nhắc mở rộng sang lĩnh vực đầu tư hạ tầng, đây là lĩnh vực được kỳ vọng tăng trưởng mạnh nhờ định hướng ưu tiên của Chính phủ và thúc đẩy giải ngân đầu tư công.

Đối với sản phẩm “Sinh lời tự động”, lãnh đạo Techcombank nhấn mạnh, ngân hàng đã rà soát đầy đủ và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật. Đồng thời đặt tiêu chí an toàn và lợi ích khách hàng lên hàng đầu, coi đây là nguyên tắc cốt lõi.

Về việc “lấn sân” lĩnh vực tài sản mã hóa, Tổng giám đốc Techcombank cho biết, ngân hàng tuân thủ chặt chẽ các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Dù các quy định còn mang tính thận trọng, Techcombank nhấn mạnh các nền tảng giao dịch được nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm với nền tảng kỹ thuật và quản trị rủi ro vững chắc./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

(TBTCO) - Khung pháp lý mới đang mở rộng dư địa đầu tư, cùng các ưu đãi thuế tiếp tục tăng sức hấp dẫn của quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Kinh nghiệm từ mô hình 401(k) tại Mỹ cho thấy, quỹ hưu trí không chỉ là “tấm đệm” tài chính cho người lao động khi về hưu, mà còn là “mạch vốn” bền bỉ, tạo lực đỡ phát triển thị trường vốn.
Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10%, kiểm soát nợ xấu dưới 1,6% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn, hướng tới trở thành ngân hàng lớn - mạnh - xanh hàng đầu Đông Nam Á, sớm lọt top châu Á. BIDV cũng triển khai nhiều cổ phần, đẩy mạnh tăng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng, cải thiện hệ số CAR.
Đại hội cổ đông HDBank 2026: Đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 41%, quy mô tiệm cận 1,2 triệu tỷ đồng

Đại hội cổ đông HDBank 2026: Đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 41%, quy mô tiệm cận 1,2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 24/4/2026, Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; Ck: HDB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, kết hợp chương trình gặp gỡ và đối thoại nhà đầu tư, thu hút đông đảo cổ đông, các quỹ đầu tư quốc tế và nhiều định chế tài chính lớn trong và ngoài nước.
Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

(TBTCO) - Bảo hiểm DBV hướng tới Top 4 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, với kế hoạch doanh thu bảo hiểm gốc chiếm 6.200 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 44 tỷ đồng; đồng thời, tái cấu trúc danh mục sản phẩm, đẩy mạnh chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái. DBV tiếp tục giữ lại lợi nhuận, để củng cố nền tảng tài chính và phục vụ tăng trưởng dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ "la bàn" định hướng hoạt động

Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ "la bàn" định hướng hoạt động

(TBTCO) - Năm 2026, TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 10.300 tỷ đồng, tăng 12%; tổng tài sản hướng mốc 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng đồng thời mở rộng hệ sinh thái khi dự kiến thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ, đa dạng hóa nguồn thu. Lãnh đạo TPBank cũng chỉ rõ "la bàn" định hướng của ngân hàng để vượt biến động thị trường, trong bối cảnh quy mô tăng mạnh.
Đại hội đồng cổ đông MSB: Đặt kế hoạch lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng, bước đi chiến lược  thành tập đoàn tài chính

Đại hội đồng cổ đông MSB: Đặt kế hoạch lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng, bước đi chiến lược thành tập đoàn tài chính

(TBTCO) - Năm 2026, MSB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 8.000 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay; đồng thời, lên kế hoạch tăng trưởng tín dụng 18% và phát hành cổ phiếu 20% nâng vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng. Lãnh đạo MSB nhấn mạnh chiến lược trở thành tập đoàn tài chính, chuyển đổi mô hình TNEX Finance và mở rộng sang chứng khoán, quản lý quỹ, khai thác tệp "tài nguyên quý" 8 triệu khách hàng cá nhân, cùng doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 24/4 ghi nhận diễn biến ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, mặt bằng giao dịch duy trì quanh vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

(TBTCO) - Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ và tích lũy tài chính ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Chubb - Tự Do An Phát.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,630 ▲80K 16,880 ▲80K
Kim TT/AVPL 16,630 ▲80K 16,880 ▲80K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,580 ▲80K 16,880 ▲80K
Nguyên Liệu 99.99 15,540 ▲80K 15,740 ▲80K
Nguyên Liệu 99.9 15,490 ▲80K 15,690 ▲80K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,340 ▲80K 16,740 ▲80K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,290 ▲80K 16,690 ▲80K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,220 ▲80K 16,670 ▲80K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,800 ▲800K 168,800 ▲800K
Hà Nội - PNJ 165,800 ▲800K 168,800 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 165,800 ▲800K 168,800 ▲800K
Miền Tây - PNJ 165,800 ▲800K 168,800 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 165,800 ▲800K 168,800 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 165,800 ▲800K 168,800 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,630 ▲10K 16,880 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,630 ▲10K 16,880 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,630 ▲10K 16,880 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,580 ▲10K 16,880 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,580 ▲10K 16,880 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,580 ▲10K 16,880 ▲10K
NL 99.90 15,400
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450
Trang sức 99.9 16,070 ▲10K 16,770 ▲10K
Trang sức 99.99 16,080 ▲10K 16,780 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,663 ▲1663K 16,882 ▲16882K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,663 ▲1663K 16,883 ▲16883K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,658 ▲1658K 1,683 ▲1683K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,658 ▲1658K 1,684 ▲1684K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,638 ▲1638K 1,668 ▲1668K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 158,649 ▲158649K 165,149 ▲165149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 116,363 ▲116363K 125,263 ▲125263K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 104,685 ▲104685K 113,585 ▲113585K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,008 ▲93008K 101,908 ▲101908K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,504 ▲88504K 97,404 ▲97404K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,813 ▲60813K 69,713 ▲69713K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 ▲1663K 1,688 ▲1688K
Cập nhật: 25/04/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18312 18588 19173
CAD 18749 19027 19644
CHF 32913 33298 33949
CNY 0 3814 3907
EUR 30248 30522 31561
GBP 34857 35250 36193
HKD 0 3233 3436
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15183 15771
SGD 20111 20394 20921
THB 729 792 847
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26180 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,326 30,350 31,616
JPY 160.92 161.21 169.94
GBP 34,927 35,022 36,021
AUD 18,473 18,540 19,130
CAD 18,909 18,970 19,555
CHF 33,138 33,241 34,016
SGD 20,235 20,298 20,977
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.39 17.09 18.5
THB 775.36 784.94 836.32
NZD 15,112 15,252 15,610
SEK - 2,804 2,886
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,779 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.5 - 6,984.19
TWD 756.54 - 911.21
SAR - 6,923.57 7,250.83
KWD - 83,846 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26226 26226 26368
AUD 18443 18543 19469
CAD 18902 19002 20013
CHF 33092 33122 34705
CNY 3795.3 3820.3 3955.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30352 30382 32107
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.53
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15233 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20240 20370 21102
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16600000 16600000 16900000
SBJ 15000000 15000000 16900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,148 26,138 26,368
USD20 26,148 26,138 26,368
USD1 26,148 26,138 26,368
AUD 18,465 18,565 19,703
EUR 30,463 30,463 31,927
CAD 18,821 18,921 20,264
SGD 20,290 20,440 21,130
JPY 161.74 163.24 168.09
GBP 34,871 35,221 36,141
XAU 16,618,000 0 16,872,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/04/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80