Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2024 với kết quả khả quan, nhiều chỉ số dẫn đầu hệ thống, đạt mức kỷ lục.
aa

Lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 27,5 nghìn tỷ đồng – tăng 20,3%; tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 47,0 nghìn tỷ đồng – tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2023. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 40,9% với số dư CASA của Techcombank bao gồm số dư Sinh lời tự động, đạt mức cao kỷ lục gần 231 nghìn tỷ đồng. Techcombank tiếp tục duy trì vị thế đầu ngành với tỉ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II tiếp tục tăng lên 15,3% và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), đạt 2,4%.

Thu nhập lãi thuần và phí ngân hàng đầu tư tăng trưởng ấn tượng

Techcombank ghi nhận thu nhập lãi thuần (NII) trong cả năm 2024 đạt hơn 35,5 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tích cực 28,2% so với cùng kỳ năm với NIM trượt 12 tháng ở mức 4,2% tăng 20 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước. Mặt khác, với tăng trưởng CASA mạnh mẽ, Techcombank giữ vững chi phí vốn quý 4 ở mức 3,4%, giảm 76 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ (NFI) ghi nhận tăng 4,4% N/N lên trên 10,6 nghìn tỷ đồng. Mức tăng trưởng một con số chủ yếu đến từ mức nền cao của năm trước. Đáng chú ý, phí dịch vụ ngân hàng đầu tư đạt 3.461 tỷ đồng, tăng 88,2% so với cùng kỳ năm, riêng quý 4 ghi nhận gần 914,6 tỷ đồng, mức cao thứ 2 đạt được trong một quý trong lịch sử hoạt động của ngân hàng.

Kết thúc năm 2024, Techcombank đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng với tổng thu nhập hoạt động (TOI) tăng 17,3% và lợi nhuận trước thuế (PBT) tăng 20,3% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt kế hoạch đã được Đại hội Đồng cổ đông thông qua.

Tính đến hiện tại, ngân hàng phục vụ gần 15,4 triệu khách hàng với dư nợ tín dụng tăng 20,85%, đồng thời tỷ lệ nợ xấu (NPL) được cải thiện đáng kể xuống mức 1,17%. Các giải pháp đột phá dựa trên dữ liệu như Sinh lời tự động, Chương trình khách hàng thân thiết (Techcombank Rewards), cùng với nhiều tính năng mới dành cho nhà bán lẻ (merchant) đã góp phần thúc đẩy số dư tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng tới 27% trong năm 2024, nâng tỷ lệ CASA đạt 40,9% tại thời điểm kết thúc quý IV.

Bước sang năm 2025, dù bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn, nền kinh tế Việt Nam được dự đoán sẽ duy trì đà tăng trưởng mạnh giúp chúng tôi tự tin với chiến lược của mình. Techcombank sẽ đẩy mạnh mở rộng hệ sinh thái với những giải pháp bảo hiểm và các giải pháp tài chính toàn diện khác, đồng thời cam kết mạnh mẽ hơn nữa với chiến lược phát triển bền vững và đa dạng hóa rủi ro.

"Với năng lực công nghệ tiên tiến và triết lý khách hàng là trọng tâm, chúng tôi đã sẵn sàng đón nhận cơ hội, dẫn dắt ngành tài chính ngân hàng trong kỷ nguyên mới, tạo ra giá trị vượt trội cho cổ đông trong các năm tiếp theo” - ông Jens Lottner – Tổng Giám đốc Techcombank khẳng định.

Techcombank tiếp tục duy trì tỷ lệ chi phí/ thu nhập (CIR) trong cả năm 2024 đạt 32,7%, thấp hơn mức 33,1% của năm 2023.

Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ
Năm 2024, Techcombank đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng.

Duy trì chất lượng tài sản và bảng cân đối kế toán mạnh

Tại 31/12/2024, tổng tài sản của Techcombank đạt 978,8 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với đầu năm. Tín dụng tăng trưởng 20,85% lên mức 640,7 nghìn tỷ đồng trong hạn mức được NHNN phê duyệt. Tính chung, tín dụng trên cơ sở hợp nhất tăng 21,7%, trong đó cho vay cá nhân tăng 28,4%, cao hơn đáng kể mức tăng 17,3% của tín dụng doanh nghiệp.

Chất lượng tài sản của Techcombank quý 4/2024 ghi nhận cải thiện tích cực. Dư nợ cần chú ý (B2) giảm mạnh 14,0% Q/Q còn 4.441 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ B2 0,73% (so với 0,86% tại quý trước). Tỷ lệ B2 trước CIC chỉ ở mức 0,56%.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ngân hàng cũng cải thiện về mức 1,17%, từ 1,35% cuối quý 3, tính cả trái phiếu & cho vay, tỷ lệ tín dụng xấu (B3-B5) chỉ còn 1,09%. Tỷ lệ NPL trước CIC ở mức thấp 1,0%.

Chi phí dự phòng ghi nhận 4.082 tỷ đồng, tăng nhẹ 4,1% so với cùng kỳ, dù tín dụng tăng 21,7% trong năm 2024, nhờ nỗ lực trong quản trị rủi ro, thu hồi nợ xấu cũng như môi trường kinh doanh tiếp tục cải thiện. Nhìn chung, chi phí tín dụng của ngân hàng trong cả năm 2024 chỉ ở mức 0,8%, đi ngang so với năm trước và theo sát dự báo của Ban lãnh đạo. Thêm vào đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của Techcombank đã tăng lên mức 113,8%.

Kết thúc năm 2024, vị thế vốn của Techcombank vẫn được duy trì mạnh mẽ, với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) là 77,1% tại 31/12/2024, cải thiện so với quý trước và duy trì dưới mức trần 85% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức 26,5%, so với mức 24,2% của cuối quý III.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II của Ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 15,3% tại 31/12/2024, cao hơn nhiều so với yêu cầu của trụ cột I, Basel II (8,0%).

Đáng chú ý, Techcombank tiếp tục dẫn dắt hệ thống về chỉ số tỷ lệ CASA với tiền gửi của khách hàng đạt 565,1 nghìn tỷ đồng, tăng 24,3% so với đầu năm. Nhờ kết quả vượt trội từ tính năng Sinh lời tự động, số dư CASA của Ngân hàng tiếp tục xác lập kỷ lục mới, ghi nhận gần 231 nghìn tỷ đồng, đưa tỷ lệ CASA của Techcombank lên ngưỡng 40,9%.

TCBS tiếp tục duy trì Top dẫn đầu với thị phần tăng trưởng ấn tượng

TCBS đã có một năm kinh doanh ấn tượng với mức vượt kế hoạch 130%. Trong quý 4/2024, TCBS ghi nhận 933 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế đưa lợi nhuận lũy kế năm 2024 lên mức 4.802 tỷ đồng, tăng trưởng ấn tượng 58,6% N/N. TCBS duy trì thị phần #3 trên sàn HOSE và #2 trên sàn HNX với mức tăng thị phần đáng kể (lên 7,7% từ 7,1% trên HOSE, lên 8,3% từ 7.9% trên HNX trong Q3). Điều này cho thấy TCBS tiếp tục là lựa chọn hàng đầu của nhà đầu tư nhờ vào chất lượng dịch vụ và chiến lược Zero fee.

Đối với mảng trái phiếu, khối lượng trái phiếu do TCBS tư vấn phát hành đạt khoảng 75 nghìn tỷ đồng trong năm 2024, chiếm gần 50% thị phần trái phiếu được phát hành, không bao gồm trái phiếu ngân hàng. Khối lượng phân phối trái phiếu của TCBS cũng ghi nhận động lực tăng mạnh, đạt 87,3 nghìn tỷ đồng trong năm, 44,4% cao hơn năm trước.

TCBS tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trong ngành tài chính bằng việc ứng dụng mạnh mẽ Trí tuệ nhân tạo (AI) và đặc biệt là Generative AI (GenAI) vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi, mang lại lợi ích vượt trội cho khách hàng và tổ chức.

Công ty áp dụng AI vào quy trình lập trình và kiểm thử tự động bằng việc sử dụng các công cụ như Co-pilot và AWS, rút ngắn 40-50% thời gian cho đội ngũ lập trình viên, mang lại những bước đột phá trong hiệu suất và tối ưu chi phí. Đặc biệt, TCBS đã phát triển nền tảng Automated Machine Learning (AutoML) để tìm kiếm khách hàng tiềm năng, đề xuất sản phẩm phù hợp, dự phóng chỉ số kinh doanh, và phát hiện giao dịch bất thường.

Tiếp tục tăng trưởng khách hàng và những điểm nhấn tích cực

Techcombank khép lại năm 2024 với khoảng 15,4 triệu khách hàng, thu hút thêm hơn 1,9 triệu khách hàng trong năm. Trong số đó, 55,1% khách hàng gia nhập thông qua nền tảng số và 43,6% từ kênh chi nhánh, nhờ Ngân hàng đẩy mạnh mở rộng nhóm khách hàng nhà bán lẻ (merchant) thông qua những giải pháp như Sinh lời tự động, Soft POS, và nhiều chương trình, sản phẩm hấp dẫn khác.

Theo NAPAS, Techcombank là ngân hàng giao dịch số một tại Việt Nam về cả giá trị giao dịch đến và đi trong tất cả các tháng liên tiếp kể từ tháng 7/2024, và thị phần số 1 tính chung cho cả năm 2024. Trong năm 2024, khối lượng và giá trị giao dịch của khách hàng cá nhân qua kênh số đạt 3,3 tỷ giao dịch và 11,3 triệu tỷ đồng, lần lượt ghi nhận tăng trưởng 51,1% và 20,0% so với cùng kỳ năm.

Lần đầu tiên, Techcombank chiếm giữ vị trí số 1 về Chỉ số Sức khỏe Thương hiệu (BEI) và là một trong hai ngân hàng duy nhất tại Việt Nam trong nhóm "Thương hiệu phát triển" theo đánh giá của Nielsen IQ. Techcombank cho thấy sự phát triển vượt bậc nhờ tầm nhìn đúng đắn, nền tảng công nghệ vượt trội và triết lý kinh doanh "Lấy khách hàng làm trọng tâm". Ngoài ra, điểm NPS của ngân hàng đạt 91 trong quý 4 năm 2024, xếp thứ 2 trong ngành.

Trong quý IV năm 2024, Techcombank ra mắt tính năng “Sinh lời tự động – Phiên bản 2.0”: Giải pháp đột phá cho dòng tiền nhàn rỗi của khách hàng và là Ngân hàng TMCP tư nhân đầu tiên tại Việt Nam ban hành Khung Trái Phiếu Xanh.

Techcombank cũng đã trở thành ngân hàng duy nhất tại Đông Nam Á nhận Giải thưởng Đổi mới xuất sắc – Innovation Excellence Award dành cho hệ thống AML phòng chống rửa tiền từ Oracle. Hệ thống đã giúp Techcombank nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác kiểm soát, phòng chống rửa tiền theo chuẩn mực quốc tế.

Thanh Thủy

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
Kim TT/AVPL 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
Nguyên Liệu 99.99 13,500 ▼300K 13,700 ▼300K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼500K 13,650 ▼300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,500 ▼300K 14,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,450 ▼300K 13,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,380 ▼300K 13,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Hà Nội - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Đà Nẵng - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Miền Tây - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Tây Nguyên - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Đông Nam Bộ - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
Miếng SJC Nghệ An 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
Miếng SJC Thái Bình 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
NL 99.90 13,200 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250 ▼250K
Trang sức 99.9 13,190 ▼380K 13,890 ▼380K
Trang sức 99.99 13,200 ▼380K 13,900 ▼380K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 135 ▼1253K 14,002 ▼380K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 135 ▼1253K 14,003 ▼380K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,348 ▼38K 1,398 ▼38K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,348 ▼38K 1,399 ▼38K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,328 ▼38K 1,383 ▼38K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,931 ▼3762K 136,931 ▼3762K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,385 ▼2851K 103,885 ▼2851K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,703 ▼2585K 94,203 ▼2585K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,021 ▲67287K 84,521 ▲75837K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,287 ▼2216K 80,787 ▼2216K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,327 ▼1585K 57,827 ▼1585K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Cập nhật: 10/06/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17950 18225 18800
CAD 18335 18611 19226
CHF 32281 32664 33310
CNY 0 3843 3936
EUR 29741 29963 31037
GBP 34403 34795 35725
HKD 0 3227 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14998 15585
SGD 19894 20176 20748
THB 714 777 830
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,927 29,951 31,258
JPY 160.01 160.3 169.31
GBP 34,659 34,753 35,807
AUD 18,202 18,268 18,886
CAD 18,556 18,616 19,225
CHF 32,614 32,715 33,553
SGD 20,070 20,132 20,842
CNY - 3,820 3,951
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 16.02 16.71 18.11
THB 763.79 773.22 824.62
NZD 15,016 15,155 15,545
SEK - 2,737 2,823
DKK - 4,004 4,129
NOK - 2,724 2,810
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,062.88 - 6,822.83
TWD 753.2 - 908.92
SAR - 6,904.75 7,244.91
KWD - 83,549 88,550
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26410
AUD 18136 18236 19167
CAD 18519 18619 19630
CHF 32524 32554 34145
CNY 3824.8 3849.8 3985.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29922 29952 31678
GBP 34698 34748 36516
HKD 0 3355 0
JPY 160.66 161.16 171.67
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15106 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20058 20188 20911
THB 0 742.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13500000 13500000 14000000
SBJ 12000000 12000000 14000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,195 18,295 19,408
EUR 30,080 30,080 31,489
CAD 18,469 18,569 19,877
SGD 20,152 20,302 20,861
JPY 161.16 162.66 167.22
GBP 34,616 34,966 35,828
XAU 13,878,900 0 14,381,100
CNY 0 3,737 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80