Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2024 với kết quả khả quan, nhiều chỉ số dẫn đầu hệ thống, đạt mức kỷ lục.
aa

Lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 27,5 nghìn tỷ đồng – tăng 20,3%; tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 47,0 nghìn tỷ đồng – tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2023. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 40,9% với số dư CASA của Techcombank bao gồm số dư Sinh lời tự động, đạt mức cao kỷ lục gần 231 nghìn tỷ đồng. Techcombank tiếp tục duy trì vị thế đầu ngành với tỉ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II tiếp tục tăng lên 15,3% và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), đạt 2,4%.

Thu nhập lãi thuần và phí ngân hàng đầu tư tăng trưởng ấn tượng

Techcombank ghi nhận thu nhập lãi thuần (NII) trong cả năm 2024 đạt hơn 35,5 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tích cực 28,2% so với cùng kỳ năm với NIM trượt 12 tháng ở mức 4,2% tăng 20 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước. Mặt khác, với tăng trưởng CASA mạnh mẽ, Techcombank giữ vững chi phí vốn quý 4 ở mức 3,4%, giảm 76 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ (NFI) ghi nhận tăng 4,4% N/N lên trên 10,6 nghìn tỷ đồng. Mức tăng trưởng một con số chủ yếu đến từ mức nền cao của năm trước. Đáng chú ý, phí dịch vụ ngân hàng đầu tư đạt 3.461 tỷ đồng, tăng 88,2% so với cùng kỳ năm, riêng quý 4 ghi nhận gần 914,6 tỷ đồng, mức cao thứ 2 đạt được trong một quý trong lịch sử hoạt động của ngân hàng.

Kết thúc năm 2024, Techcombank đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng với tổng thu nhập hoạt động (TOI) tăng 17,3% và lợi nhuận trước thuế (PBT) tăng 20,3% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt kế hoạch đã được Đại hội Đồng cổ đông thông qua.

Tính đến hiện tại, ngân hàng phục vụ gần 15,4 triệu khách hàng với dư nợ tín dụng tăng 20,85%, đồng thời tỷ lệ nợ xấu (NPL) được cải thiện đáng kể xuống mức 1,17%. Các giải pháp đột phá dựa trên dữ liệu như Sinh lời tự động, Chương trình khách hàng thân thiết (Techcombank Rewards), cùng với nhiều tính năng mới dành cho nhà bán lẻ (merchant) đã góp phần thúc đẩy số dư tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng tới 27% trong năm 2024, nâng tỷ lệ CASA đạt 40,9% tại thời điểm kết thúc quý IV.

Bước sang năm 2025, dù bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn, nền kinh tế Việt Nam được dự đoán sẽ duy trì đà tăng trưởng mạnh giúp chúng tôi tự tin với chiến lược của mình. Techcombank sẽ đẩy mạnh mở rộng hệ sinh thái với những giải pháp bảo hiểm và các giải pháp tài chính toàn diện khác, đồng thời cam kết mạnh mẽ hơn nữa với chiến lược phát triển bền vững và đa dạng hóa rủi ro.

"Với năng lực công nghệ tiên tiến và triết lý khách hàng là trọng tâm, chúng tôi đã sẵn sàng đón nhận cơ hội, dẫn dắt ngành tài chính ngân hàng trong kỷ nguyên mới, tạo ra giá trị vượt trội cho cổ đông trong các năm tiếp theo” - ông Jens Lottner – Tổng Giám đốc Techcombank khẳng định.

Techcombank tiếp tục duy trì tỷ lệ chi phí/ thu nhập (CIR) trong cả năm 2024 đạt 32,7%, thấp hơn mức 33,1% của năm 2023.

Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ
Năm 2024, Techcombank đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng.

Duy trì chất lượng tài sản và bảng cân đối kế toán mạnh

Tại 31/12/2024, tổng tài sản của Techcombank đạt 978,8 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với đầu năm. Tín dụng tăng trưởng 20,85% lên mức 640,7 nghìn tỷ đồng trong hạn mức được NHNN phê duyệt. Tính chung, tín dụng trên cơ sở hợp nhất tăng 21,7%, trong đó cho vay cá nhân tăng 28,4%, cao hơn đáng kể mức tăng 17,3% của tín dụng doanh nghiệp.

Chất lượng tài sản của Techcombank quý 4/2024 ghi nhận cải thiện tích cực. Dư nợ cần chú ý (B2) giảm mạnh 14,0% Q/Q còn 4.441 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ B2 0,73% (so với 0,86% tại quý trước). Tỷ lệ B2 trước CIC chỉ ở mức 0,56%.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ngân hàng cũng cải thiện về mức 1,17%, từ 1,35% cuối quý 3, tính cả trái phiếu & cho vay, tỷ lệ tín dụng xấu (B3-B5) chỉ còn 1,09%. Tỷ lệ NPL trước CIC ở mức thấp 1,0%.

Chi phí dự phòng ghi nhận 4.082 tỷ đồng, tăng nhẹ 4,1% so với cùng kỳ, dù tín dụng tăng 21,7% trong năm 2024, nhờ nỗ lực trong quản trị rủi ro, thu hồi nợ xấu cũng như môi trường kinh doanh tiếp tục cải thiện. Nhìn chung, chi phí tín dụng của ngân hàng trong cả năm 2024 chỉ ở mức 0,8%, đi ngang so với năm trước và theo sát dự báo của Ban lãnh đạo. Thêm vào đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của Techcombank đã tăng lên mức 113,8%.

Kết thúc năm 2024, vị thế vốn của Techcombank vẫn được duy trì mạnh mẽ, với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) là 77,1% tại 31/12/2024, cải thiện so với quý trước và duy trì dưới mức trần 85% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức 26,5%, so với mức 24,2% của cuối quý III.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II của Ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 15,3% tại 31/12/2024, cao hơn nhiều so với yêu cầu của trụ cột I, Basel II (8,0%).

Đáng chú ý, Techcombank tiếp tục dẫn dắt hệ thống về chỉ số tỷ lệ CASA với tiền gửi của khách hàng đạt 565,1 nghìn tỷ đồng, tăng 24,3% so với đầu năm. Nhờ kết quả vượt trội từ tính năng Sinh lời tự động, số dư CASA của Ngân hàng tiếp tục xác lập kỷ lục mới, ghi nhận gần 231 nghìn tỷ đồng, đưa tỷ lệ CASA của Techcombank lên ngưỡng 40,9%.

TCBS tiếp tục duy trì Top dẫn đầu với thị phần tăng trưởng ấn tượng

TCBS đã có một năm kinh doanh ấn tượng với mức vượt kế hoạch 130%. Trong quý 4/2024, TCBS ghi nhận 933 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế đưa lợi nhuận lũy kế năm 2024 lên mức 4.802 tỷ đồng, tăng trưởng ấn tượng 58,6% N/N. TCBS duy trì thị phần #3 trên sàn HOSE và #2 trên sàn HNX với mức tăng thị phần đáng kể (lên 7,7% từ 7,1% trên HOSE, lên 8,3% từ 7.9% trên HNX trong Q3). Điều này cho thấy TCBS tiếp tục là lựa chọn hàng đầu của nhà đầu tư nhờ vào chất lượng dịch vụ và chiến lược Zero fee.

Đối với mảng trái phiếu, khối lượng trái phiếu do TCBS tư vấn phát hành đạt khoảng 75 nghìn tỷ đồng trong năm 2024, chiếm gần 50% thị phần trái phiếu được phát hành, không bao gồm trái phiếu ngân hàng. Khối lượng phân phối trái phiếu của TCBS cũng ghi nhận động lực tăng mạnh, đạt 87,3 nghìn tỷ đồng trong năm, 44,4% cao hơn năm trước.

TCBS tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trong ngành tài chính bằng việc ứng dụng mạnh mẽ Trí tuệ nhân tạo (AI) và đặc biệt là Generative AI (GenAI) vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi, mang lại lợi ích vượt trội cho khách hàng và tổ chức.

Công ty áp dụng AI vào quy trình lập trình và kiểm thử tự động bằng việc sử dụng các công cụ như Co-pilot và AWS, rút ngắn 40-50% thời gian cho đội ngũ lập trình viên, mang lại những bước đột phá trong hiệu suất và tối ưu chi phí. Đặc biệt, TCBS đã phát triển nền tảng Automated Machine Learning (AutoML) để tìm kiếm khách hàng tiềm năng, đề xuất sản phẩm phù hợp, dự phóng chỉ số kinh doanh, và phát hiện giao dịch bất thường.

Tiếp tục tăng trưởng khách hàng và những điểm nhấn tích cực

Techcombank khép lại năm 2024 với khoảng 15,4 triệu khách hàng, thu hút thêm hơn 1,9 triệu khách hàng trong năm. Trong số đó, 55,1% khách hàng gia nhập thông qua nền tảng số và 43,6% từ kênh chi nhánh, nhờ Ngân hàng đẩy mạnh mở rộng nhóm khách hàng nhà bán lẻ (merchant) thông qua những giải pháp như Sinh lời tự động, Soft POS, và nhiều chương trình, sản phẩm hấp dẫn khác.

Theo NAPAS, Techcombank là ngân hàng giao dịch số một tại Việt Nam về cả giá trị giao dịch đến và đi trong tất cả các tháng liên tiếp kể từ tháng 7/2024, và thị phần số 1 tính chung cho cả năm 2024. Trong năm 2024, khối lượng và giá trị giao dịch của khách hàng cá nhân qua kênh số đạt 3,3 tỷ giao dịch và 11,3 triệu tỷ đồng, lần lượt ghi nhận tăng trưởng 51,1% và 20,0% so với cùng kỳ năm.

Lần đầu tiên, Techcombank chiếm giữ vị trí số 1 về Chỉ số Sức khỏe Thương hiệu (BEI) và là một trong hai ngân hàng duy nhất tại Việt Nam trong nhóm "Thương hiệu phát triển" theo đánh giá của Nielsen IQ. Techcombank cho thấy sự phát triển vượt bậc nhờ tầm nhìn đúng đắn, nền tảng công nghệ vượt trội và triết lý kinh doanh "Lấy khách hàng làm trọng tâm". Ngoài ra, điểm NPS của ngân hàng đạt 91 trong quý 4 năm 2024, xếp thứ 2 trong ngành.

Trong quý IV năm 2024, Techcombank ra mắt tính năng “Sinh lời tự động – Phiên bản 2.0”: Giải pháp đột phá cho dòng tiền nhàn rỗi của khách hàng và là Ngân hàng TMCP tư nhân đầu tiên tại Việt Nam ban hành Khung Trái Phiếu Xanh.

Techcombank cũng đã trở thành ngân hàng duy nhất tại Đông Nam Á nhận Giải thưởng Đổi mới xuất sắc – Innovation Excellence Award dành cho hệ thống AML phòng chống rửa tiền từ Oracle. Hệ thống đã giúp Techcombank nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác kiểm soát, phòng chống rửa tiền theo chuẩn mực quốc tế.

Thanh Thủy

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 03/08/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80