Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2024 với kết quả khả quan, nhiều chỉ số dẫn đầu hệ thống, đạt mức kỷ lục.
aa

Lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 27,5 nghìn tỷ đồng – tăng 20,3%; tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 47,0 nghìn tỷ đồng – tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2023. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 40,9% với số dư CASA của Techcombank bao gồm số dư Sinh lời tự động, đạt mức cao kỷ lục gần 231 nghìn tỷ đồng. Techcombank tiếp tục duy trì vị thế đầu ngành với tỉ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II tiếp tục tăng lên 15,3% và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), đạt 2,4%.

Thu nhập lãi thuần và phí ngân hàng đầu tư tăng trưởng ấn tượng

Techcombank ghi nhận thu nhập lãi thuần (NII) trong cả năm 2024 đạt hơn 35,5 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tích cực 28,2% so với cùng kỳ năm với NIM trượt 12 tháng ở mức 4,2% tăng 20 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước. Mặt khác, với tăng trưởng CASA mạnh mẽ, Techcombank giữ vững chi phí vốn quý 4 ở mức 3,4%, giảm 76 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ (NFI) ghi nhận tăng 4,4% N/N lên trên 10,6 nghìn tỷ đồng. Mức tăng trưởng một con số chủ yếu đến từ mức nền cao của năm trước. Đáng chú ý, phí dịch vụ ngân hàng đầu tư đạt 3.461 tỷ đồng, tăng 88,2% so với cùng kỳ năm, riêng quý 4 ghi nhận gần 914,6 tỷ đồng, mức cao thứ 2 đạt được trong một quý trong lịch sử hoạt động của ngân hàng.

Kết thúc năm 2024, Techcombank đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng với tổng thu nhập hoạt động (TOI) tăng 17,3% và lợi nhuận trước thuế (PBT) tăng 20,3% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt kế hoạch đã được Đại hội Đồng cổ đông thông qua.

Tính đến hiện tại, ngân hàng phục vụ gần 15,4 triệu khách hàng với dư nợ tín dụng tăng 20,85%, đồng thời tỷ lệ nợ xấu (NPL) được cải thiện đáng kể xuống mức 1,17%. Các giải pháp đột phá dựa trên dữ liệu như Sinh lời tự động, Chương trình khách hàng thân thiết (Techcombank Rewards), cùng với nhiều tính năng mới dành cho nhà bán lẻ (merchant) đã góp phần thúc đẩy số dư tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng tới 27% trong năm 2024, nâng tỷ lệ CASA đạt 40,9% tại thời điểm kết thúc quý IV.

Bước sang năm 2025, dù bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn, nền kinh tế Việt Nam được dự đoán sẽ duy trì đà tăng trưởng mạnh giúp chúng tôi tự tin với chiến lược của mình. Techcombank sẽ đẩy mạnh mở rộng hệ sinh thái với những giải pháp bảo hiểm và các giải pháp tài chính toàn diện khác, đồng thời cam kết mạnh mẽ hơn nữa với chiến lược phát triển bền vững và đa dạng hóa rủi ro.

"Với năng lực công nghệ tiên tiến và triết lý khách hàng là trọng tâm, chúng tôi đã sẵn sàng đón nhận cơ hội, dẫn dắt ngành tài chính ngân hàng trong kỷ nguyên mới, tạo ra giá trị vượt trội cho cổ đông trong các năm tiếp theo” - ông Jens Lottner – Tổng Giám đốc Techcombank khẳng định.

Techcombank tiếp tục duy trì tỷ lệ chi phí/ thu nhập (CIR) trong cả năm 2024 đạt 32,7%, thấp hơn mức 33,1% của năm 2023.

Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ
Năm 2024, Techcombank đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng.

Duy trì chất lượng tài sản và bảng cân đối kế toán mạnh

Tại 31/12/2024, tổng tài sản của Techcombank đạt 978,8 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với đầu năm. Tín dụng tăng trưởng 20,85% lên mức 640,7 nghìn tỷ đồng trong hạn mức được NHNN phê duyệt. Tính chung, tín dụng trên cơ sở hợp nhất tăng 21,7%, trong đó cho vay cá nhân tăng 28,4%, cao hơn đáng kể mức tăng 17,3% của tín dụng doanh nghiệp.

Chất lượng tài sản của Techcombank quý 4/2024 ghi nhận cải thiện tích cực. Dư nợ cần chú ý (B2) giảm mạnh 14,0% Q/Q còn 4.441 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ B2 0,73% (so với 0,86% tại quý trước). Tỷ lệ B2 trước CIC chỉ ở mức 0,56%.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ngân hàng cũng cải thiện về mức 1,17%, từ 1,35% cuối quý 3, tính cả trái phiếu & cho vay, tỷ lệ tín dụng xấu (B3-B5) chỉ còn 1,09%. Tỷ lệ NPL trước CIC ở mức thấp 1,0%.

Chi phí dự phòng ghi nhận 4.082 tỷ đồng, tăng nhẹ 4,1% so với cùng kỳ, dù tín dụng tăng 21,7% trong năm 2024, nhờ nỗ lực trong quản trị rủi ro, thu hồi nợ xấu cũng như môi trường kinh doanh tiếp tục cải thiện. Nhìn chung, chi phí tín dụng của ngân hàng trong cả năm 2024 chỉ ở mức 0,8%, đi ngang so với năm trước và theo sát dự báo của Ban lãnh đạo. Thêm vào đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của Techcombank đã tăng lên mức 113,8%.

Kết thúc năm 2024, vị thế vốn của Techcombank vẫn được duy trì mạnh mẽ, với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) là 77,1% tại 31/12/2024, cải thiện so với quý trước và duy trì dưới mức trần 85% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức 26,5%, so với mức 24,2% của cuối quý III.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II của Ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 15,3% tại 31/12/2024, cao hơn nhiều so với yêu cầu của trụ cột I, Basel II (8,0%).

Đáng chú ý, Techcombank tiếp tục dẫn dắt hệ thống về chỉ số tỷ lệ CASA với tiền gửi của khách hàng đạt 565,1 nghìn tỷ đồng, tăng 24,3% so với đầu năm. Nhờ kết quả vượt trội từ tính năng Sinh lời tự động, số dư CASA của Ngân hàng tiếp tục xác lập kỷ lục mới, ghi nhận gần 231 nghìn tỷ đồng, đưa tỷ lệ CASA của Techcombank lên ngưỡng 40,9%.

TCBS tiếp tục duy trì Top dẫn đầu với thị phần tăng trưởng ấn tượng

TCBS đã có một năm kinh doanh ấn tượng với mức vượt kế hoạch 130%. Trong quý 4/2024, TCBS ghi nhận 933 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế đưa lợi nhuận lũy kế năm 2024 lên mức 4.802 tỷ đồng, tăng trưởng ấn tượng 58,6% N/N. TCBS duy trì thị phần #3 trên sàn HOSE và #2 trên sàn HNX với mức tăng thị phần đáng kể (lên 7,7% từ 7,1% trên HOSE, lên 8,3% từ 7.9% trên HNX trong Q3). Điều này cho thấy TCBS tiếp tục là lựa chọn hàng đầu của nhà đầu tư nhờ vào chất lượng dịch vụ và chiến lược Zero fee.

Đối với mảng trái phiếu, khối lượng trái phiếu do TCBS tư vấn phát hành đạt khoảng 75 nghìn tỷ đồng trong năm 2024, chiếm gần 50% thị phần trái phiếu được phát hành, không bao gồm trái phiếu ngân hàng. Khối lượng phân phối trái phiếu của TCBS cũng ghi nhận động lực tăng mạnh, đạt 87,3 nghìn tỷ đồng trong năm, 44,4% cao hơn năm trước.

TCBS tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trong ngành tài chính bằng việc ứng dụng mạnh mẽ Trí tuệ nhân tạo (AI) và đặc biệt là Generative AI (GenAI) vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi, mang lại lợi ích vượt trội cho khách hàng và tổ chức.

Công ty áp dụng AI vào quy trình lập trình và kiểm thử tự động bằng việc sử dụng các công cụ như Co-pilot và AWS, rút ngắn 40-50% thời gian cho đội ngũ lập trình viên, mang lại những bước đột phá trong hiệu suất và tối ưu chi phí. Đặc biệt, TCBS đã phát triển nền tảng Automated Machine Learning (AutoML) để tìm kiếm khách hàng tiềm năng, đề xuất sản phẩm phù hợp, dự phóng chỉ số kinh doanh, và phát hiện giao dịch bất thường.

Tiếp tục tăng trưởng khách hàng và những điểm nhấn tích cực

Techcombank khép lại năm 2024 với khoảng 15,4 triệu khách hàng, thu hút thêm hơn 1,9 triệu khách hàng trong năm. Trong số đó, 55,1% khách hàng gia nhập thông qua nền tảng số và 43,6% từ kênh chi nhánh, nhờ Ngân hàng đẩy mạnh mở rộng nhóm khách hàng nhà bán lẻ (merchant) thông qua những giải pháp như Sinh lời tự động, Soft POS, và nhiều chương trình, sản phẩm hấp dẫn khác.

Theo NAPAS, Techcombank là ngân hàng giao dịch số một tại Việt Nam về cả giá trị giao dịch đến và đi trong tất cả các tháng liên tiếp kể từ tháng 7/2024, và thị phần số 1 tính chung cho cả năm 2024. Trong năm 2024, khối lượng và giá trị giao dịch của khách hàng cá nhân qua kênh số đạt 3,3 tỷ giao dịch và 11,3 triệu tỷ đồng, lần lượt ghi nhận tăng trưởng 51,1% và 20,0% so với cùng kỳ năm.

Lần đầu tiên, Techcombank chiếm giữ vị trí số 1 về Chỉ số Sức khỏe Thương hiệu (BEI) và là một trong hai ngân hàng duy nhất tại Việt Nam trong nhóm "Thương hiệu phát triển" theo đánh giá của Nielsen IQ. Techcombank cho thấy sự phát triển vượt bậc nhờ tầm nhìn đúng đắn, nền tảng công nghệ vượt trội và triết lý kinh doanh "Lấy khách hàng làm trọng tâm". Ngoài ra, điểm NPS của ngân hàng đạt 91 trong quý 4 năm 2024, xếp thứ 2 trong ngành.

Trong quý IV năm 2024, Techcombank ra mắt tính năng “Sinh lời tự động – Phiên bản 2.0”: Giải pháp đột phá cho dòng tiền nhàn rỗi của khách hàng và là Ngân hàng TMCP tư nhân đầu tiên tại Việt Nam ban hành Khung Trái Phiếu Xanh.

Techcombank cũng đã trở thành ngân hàng duy nhất tại Đông Nam Á nhận Giải thưởng Đổi mới xuất sắc – Innovation Excellence Award dành cho hệ thống AML phòng chống rửa tiền từ Oracle. Hệ thống đã giúp Techcombank nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác kiểm soát, phòng chống rửa tiền theo chuẩn mực quốc tế.

Thanh Thủy

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80