Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2024 với kết quả khả quan, nhiều chỉ số dẫn đầu hệ thống, đạt mức kỷ lục.
aa

Lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 27,5 nghìn tỷ đồng – tăng 20,3%; tổng thu nhập hoạt động (TOI) đạt 47,0 nghìn tỷ đồng – tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2023. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 40,9% với số dư CASA của Techcombank bao gồm số dư Sinh lời tự động, đạt mức cao kỷ lục gần 231 nghìn tỷ đồng. Techcombank tiếp tục duy trì vị thế đầu ngành với tỉ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II tiếp tục tăng lên 15,3% và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), đạt 2,4%.

Thu nhập lãi thuần và phí ngân hàng đầu tư tăng trưởng ấn tượng

Techcombank ghi nhận thu nhập lãi thuần (NII) trong cả năm 2024 đạt hơn 35,5 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tích cực 28,2% so với cùng kỳ năm với NIM trượt 12 tháng ở mức 4,2% tăng 20 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước. Mặt khác, với tăng trưởng CASA mạnh mẽ, Techcombank giữ vững chi phí vốn quý 4 ở mức 3,4%, giảm 76 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước.

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ (NFI) ghi nhận tăng 4,4% N/N lên trên 10,6 nghìn tỷ đồng. Mức tăng trưởng một con số chủ yếu đến từ mức nền cao của năm trước. Đáng chú ý, phí dịch vụ ngân hàng đầu tư đạt 3.461 tỷ đồng, tăng 88,2% so với cùng kỳ năm, riêng quý 4 ghi nhận gần 914,6 tỷ đồng, mức cao thứ 2 đạt được trong một quý trong lịch sử hoạt động của ngân hàng.

Kết thúc năm 2024, Techcombank đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng với tổng thu nhập hoạt động (TOI) tăng 17,3% và lợi nhuận trước thuế (PBT) tăng 20,3% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt kế hoạch đã được Đại hội Đồng cổ đông thông qua.

Tính đến hiện tại, ngân hàng phục vụ gần 15,4 triệu khách hàng với dư nợ tín dụng tăng 20,85%, đồng thời tỷ lệ nợ xấu (NPL) được cải thiện đáng kể xuống mức 1,17%. Các giải pháp đột phá dựa trên dữ liệu như Sinh lời tự động, Chương trình khách hàng thân thiết (Techcombank Rewards), cùng với nhiều tính năng mới dành cho nhà bán lẻ (merchant) đã góp phần thúc đẩy số dư tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng tới 27% trong năm 2024, nâng tỷ lệ CASA đạt 40,9% tại thời điểm kết thúc quý IV.

Bước sang năm 2025, dù bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn, nền kinh tế Việt Nam được dự đoán sẽ duy trì đà tăng trưởng mạnh giúp chúng tôi tự tin với chiến lược của mình. Techcombank sẽ đẩy mạnh mở rộng hệ sinh thái với những giải pháp bảo hiểm và các giải pháp tài chính toàn diện khác, đồng thời cam kết mạnh mẽ hơn nữa với chiến lược phát triển bền vững và đa dạng hóa rủi ro.

"Với năng lực công nghệ tiên tiến và triết lý khách hàng là trọng tâm, chúng tôi đã sẵn sàng đón nhận cơ hội, dẫn dắt ngành tài chính ngân hàng trong kỷ nguyên mới, tạo ra giá trị vượt trội cho cổ đông trong các năm tiếp theo” - ông Jens Lottner – Tổng Giám đốc Techcombank khẳng định.

Techcombank tiếp tục duy trì tỷ lệ chi phí/ thu nhập (CIR) trong cả năm 2024 đạt 32,7%, thấp hơn mức 33,1% của năm 2023.

Techcombank đạt lợi nhuận trước thuế hơn 27,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với cùng kỳ
Năm 2024, Techcombank đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng.

Duy trì chất lượng tài sản và bảng cân đối kế toán mạnh

Tại 31/12/2024, tổng tài sản của Techcombank đạt 978,8 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% so với đầu năm. Tín dụng tăng trưởng 20,85% lên mức 640,7 nghìn tỷ đồng trong hạn mức được NHNN phê duyệt. Tính chung, tín dụng trên cơ sở hợp nhất tăng 21,7%, trong đó cho vay cá nhân tăng 28,4%, cao hơn đáng kể mức tăng 17,3% của tín dụng doanh nghiệp.

Chất lượng tài sản của Techcombank quý 4/2024 ghi nhận cải thiện tích cực. Dư nợ cần chú ý (B2) giảm mạnh 14,0% Q/Q còn 4.441 tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ B2 0,73% (so với 0,86% tại quý trước). Tỷ lệ B2 trước CIC chỉ ở mức 0,56%.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) của ngân hàng cũng cải thiện về mức 1,17%, từ 1,35% cuối quý 3, tính cả trái phiếu & cho vay, tỷ lệ tín dụng xấu (B3-B5) chỉ còn 1,09%. Tỷ lệ NPL trước CIC ở mức thấp 1,0%.

Chi phí dự phòng ghi nhận 4.082 tỷ đồng, tăng nhẹ 4,1% so với cùng kỳ, dù tín dụng tăng 21,7% trong năm 2024, nhờ nỗ lực trong quản trị rủi ro, thu hồi nợ xấu cũng như môi trường kinh doanh tiếp tục cải thiện. Nhìn chung, chi phí tín dụng của ngân hàng trong cả năm 2024 chỉ ở mức 0,8%, đi ngang so với năm trước và theo sát dự báo của Ban lãnh đạo. Thêm vào đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của Techcombank đã tăng lên mức 113,8%.

Kết thúc năm 2024, vị thế vốn của Techcombank vẫn được duy trì mạnh mẽ, với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) là 77,1% tại 31/12/2024, cải thiện so với quý trước và duy trì dưới mức trần 85% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức 26,5%, so với mức 24,2% của cuối quý III.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II của Ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 15,3% tại 31/12/2024, cao hơn nhiều so với yêu cầu của trụ cột I, Basel II (8,0%).

Đáng chú ý, Techcombank tiếp tục dẫn dắt hệ thống về chỉ số tỷ lệ CASA với tiền gửi của khách hàng đạt 565,1 nghìn tỷ đồng, tăng 24,3% so với đầu năm. Nhờ kết quả vượt trội từ tính năng Sinh lời tự động, số dư CASA của Ngân hàng tiếp tục xác lập kỷ lục mới, ghi nhận gần 231 nghìn tỷ đồng, đưa tỷ lệ CASA của Techcombank lên ngưỡng 40,9%.

TCBS tiếp tục duy trì Top dẫn đầu với thị phần tăng trưởng ấn tượng

TCBS đã có một năm kinh doanh ấn tượng với mức vượt kế hoạch 130%. Trong quý 4/2024, TCBS ghi nhận 933 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế đưa lợi nhuận lũy kế năm 2024 lên mức 4.802 tỷ đồng, tăng trưởng ấn tượng 58,6% N/N. TCBS duy trì thị phần #3 trên sàn HOSE và #2 trên sàn HNX với mức tăng thị phần đáng kể (lên 7,7% từ 7,1% trên HOSE, lên 8,3% từ 7.9% trên HNX trong Q3). Điều này cho thấy TCBS tiếp tục là lựa chọn hàng đầu của nhà đầu tư nhờ vào chất lượng dịch vụ và chiến lược Zero fee.

Đối với mảng trái phiếu, khối lượng trái phiếu do TCBS tư vấn phát hành đạt khoảng 75 nghìn tỷ đồng trong năm 2024, chiếm gần 50% thị phần trái phiếu được phát hành, không bao gồm trái phiếu ngân hàng. Khối lượng phân phối trái phiếu của TCBS cũng ghi nhận động lực tăng mạnh, đạt 87,3 nghìn tỷ đồng trong năm, 44,4% cao hơn năm trước.

TCBS tiếp tục khẳng định vị thế dẫn đầu trong ngành tài chính bằng việc ứng dụng mạnh mẽ Trí tuệ nhân tạo (AI) và đặc biệt là Generative AI (GenAI) vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi, mang lại lợi ích vượt trội cho khách hàng và tổ chức.

Công ty áp dụng AI vào quy trình lập trình và kiểm thử tự động bằng việc sử dụng các công cụ như Co-pilot và AWS, rút ngắn 40-50% thời gian cho đội ngũ lập trình viên, mang lại những bước đột phá trong hiệu suất và tối ưu chi phí. Đặc biệt, TCBS đã phát triển nền tảng Automated Machine Learning (AutoML) để tìm kiếm khách hàng tiềm năng, đề xuất sản phẩm phù hợp, dự phóng chỉ số kinh doanh, và phát hiện giao dịch bất thường.

Tiếp tục tăng trưởng khách hàng và những điểm nhấn tích cực

Techcombank khép lại năm 2024 với khoảng 15,4 triệu khách hàng, thu hút thêm hơn 1,9 triệu khách hàng trong năm. Trong số đó, 55,1% khách hàng gia nhập thông qua nền tảng số và 43,6% từ kênh chi nhánh, nhờ Ngân hàng đẩy mạnh mở rộng nhóm khách hàng nhà bán lẻ (merchant) thông qua những giải pháp như Sinh lời tự động, Soft POS, và nhiều chương trình, sản phẩm hấp dẫn khác.

Theo NAPAS, Techcombank là ngân hàng giao dịch số một tại Việt Nam về cả giá trị giao dịch đến và đi trong tất cả các tháng liên tiếp kể từ tháng 7/2024, và thị phần số 1 tính chung cho cả năm 2024. Trong năm 2024, khối lượng và giá trị giao dịch của khách hàng cá nhân qua kênh số đạt 3,3 tỷ giao dịch và 11,3 triệu tỷ đồng, lần lượt ghi nhận tăng trưởng 51,1% và 20,0% so với cùng kỳ năm.

Lần đầu tiên, Techcombank chiếm giữ vị trí số 1 về Chỉ số Sức khỏe Thương hiệu (BEI) và là một trong hai ngân hàng duy nhất tại Việt Nam trong nhóm "Thương hiệu phát triển" theo đánh giá của Nielsen IQ. Techcombank cho thấy sự phát triển vượt bậc nhờ tầm nhìn đúng đắn, nền tảng công nghệ vượt trội và triết lý kinh doanh "Lấy khách hàng làm trọng tâm". Ngoài ra, điểm NPS của ngân hàng đạt 91 trong quý 4 năm 2024, xếp thứ 2 trong ngành.

Trong quý IV năm 2024, Techcombank ra mắt tính năng “Sinh lời tự động – Phiên bản 2.0”: Giải pháp đột phá cho dòng tiền nhàn rỗi của khách hàng và là Ngân hàng TMCP tư nhân đầu tiên tại Việt Nam ban hành Khung Trái Phiếu Xanh.

Techcombank cũng đã trở thành ngân hàng duy nhất tại Đông Nam Á nhận Giải thưởng Đổi mới xuất sắc – Innovation Excellence Award dành cho hệ thống AML phòng chống rửa tiền từ Oracle. Hệ thống đã giúp Techcombank nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác kiểm soát, phòng chống rửa tiền theo chuẩn mực quốc tế.

Thanh Thủy

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

(TBTCO) - Sáng 10/9, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng xuống 25.591 đồng, trong khi chỉ số DXY dao động quanh 98,79 điểm. Tâm điểm thị trường là cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), với kỳ vọng tăng lãi suất lần thứ hai trong năm nay, thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5% khi lạm phát khu vực đồng euro vượt 3%.
Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế "mở khóa” dòng vốn

Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế "mở khóa” dòng vốn

(TBTCO) - Lĩnh vực y tế tư nhân Việt Nam đang có dư địa phát triển lớn khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh kết hợp du lịch gia tăng, kéo theo thị trường thiết bị y tế có thể đạt 4 tỷ USD/năm trong thời gian tới. Trong khi khả năng tiếp cận vốn trung - dài hạn của bệnh viện, phòng khám tư nhân còn hạn chế, cho thuê tài chính nổi lên với nhiều lợi thế trong việc giải bài toán vốn.
Tập đoàn Sun Life ghi nhận tăng trưởng tích cực, tiếp tục mở rộng mạng lưới tại Việt Nam

Tập đoàn Sun Life ghi nhận tăng trưởng tích cực, tiếp tục mở rộng mạng lưới tại Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Sun Life vừa công bố kết quả kinh doanh quý II/2026 với nhiều điểm sáng trên toàn cầu và tại khu vực châu Á, tiếp tục khẳng định hiệu quả của chiến lược phát triển bền vững, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo. Tại Việt Nam, Sun Life Việt Nam cũng ghi nhận những kết quả khả quan trong nửa đầu năm 2026, đồng thời tăng cường năng lực tài chính để thực hiện cam kết đồng hành và bảo vệ khách hàng trước những rủi ro trong cuộc sống.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

(TBTCO) - Ngày 8/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam và Công ty Quản lý và Kinh doanh Chợ Bình Điền chính thức ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, hướng đến mở rộng khả năng tiếp cận các giải pháp tài chính phù hợp cho thương nhân và hộ kinh doanh đang hoạt động tại chợ Bình Điền.
VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,500
Hà Nội - PNJ 143,200 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,500
Miền Tây - PNJ 143,200 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 10/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18152 18427 19002
CAD 18224 18500 19116
CHF 31355 31734 32376
CNY 0 3820 3915
EUR 29514 29735 30810
GBP 34297 34688 35632
HKD 0 3173 3375
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14852 15434
SGD 19947 20229 20805
THB 702 766 819
USD (1,2) 25641 0 0
USD (5,10,20) 25679 0 0
USD (50,100) 25707 25721 26086
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,720 25,720 26,100
USD(1-2-5) 24,692 - -
USD(10-20) 24,692 - -
EUR 29,561 29,585 30,988
JPY 164.25 164.55 174.53
GBP 34,496 34,589 35,787
AUD 18,363 18,429 19,129
CAD 18,414 18,473 19,158
CHF 31,631 31,729 32,669
SGD 20,077 20,139 20,929
CNY - 3,788 3,933
HKD 3,237 3,247 3,384
KRW 17.85 18.62 20.25
THB 751.04 760.32 814.39
NZD 14,828 14,966 15,411
SEK - 2,656 2,751
DKK - 3,965 4,106
NOK - 2,767 2,870
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.87 - 6,718.86
TWD 742 - 899.01
SAR - 6,779.73 7,146.27
KWD - 82,216 87,489
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 29,582 29,701 30,892
GBP 34,480 34,618 35,648
HKD 3,236 3,249 3,366
CHF 31,450 31,576 32,506
JPY 164.56 165.22 173.18
AUD 18,347 18,421 19,017
SGD 20,142 20,223 20,820
THB 767 770 807
CAD 18,424 18,498 19,092
NZD 14,906 15,447
KRW 18.51 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25720 25720 26080
AUD 18332 18432 19367
CAD 18405 18505 19520
CHF 31611 31641 33223
CNY 3801.7 3826.7 3962.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29690 29720 31442
GBP 34605 34655 36415
HKD 0 3330 0
JPY 165.33 165.83 176.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14946 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20114 20244 20965
THB 0 731.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,681 25,731 26,110
USD20 25,651 25,731 26,110
USD1 25,631 25,731 26,110
AUD 18,395 18,495 19,603
EUR 29,488 29,588 31,248
CAD 18,354 18,454 19,762
SGD 20,183 20,333 20,898
JPY 165.75 167.25 172.81
GBP 34,496 34,646 35,970
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/09/2026 15:30
Ngân hàng