Agribank và hành trình đưa Nghị quyết 26 vào cuộc sống

(TBTCO) - Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Agribank luôn gắn bó sâu sắc với tam nông và góp phần quan trọng vào sự đổi thay của nền nông nghiệp nước nhà. Đặc biệt, kể từ khi Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ra đời, Agribank đã không ngừng nỗ lực đưa nghị quyết vào cuộc sống và đã đạt được những kết quả khả quan trên nhiều phương diện.
aa

Agribank triển khai sâu rộng các chương trình tín dụng phục vụ tam nông

Đối với sự ổn định, phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta thì nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là vấn đề có tính chiến lược trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đảng luôn chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn và không ngừng nâng cao đời sống của người nông dân. Nhiều nghị quyết, văn bản quan trọng về vấn đề này đã được Đảng ban hành trong đó có Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Agribank đã tổ chức những hội nghị quán triệt, học tập Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ướng khóa X để triển khai chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Agribank đã kịp thời ban hành những cơ chế, quy định, quy trình nghiệp vụ cụ thể để chỉ đạo hoạt động tín dụng của Agribank theo đúng nội dung và các giải pháp của Nghị quyết 26-NQ/TW gắn với chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng thương mại nhà nước trong đầu tư tín dụng, phát triển kinh tế xã hội.

Agribank và hành trình đưa Nghị quyết 26 vào cuộc sống

Nguồn vốn Agribank giúp thúc đẩy hoạt động chế biến xuất khẩu thủy sản.

Bằng các giải pháp cụ thể đã triển khai thực hiện, Agribank được ghi nhận là đơn vị đi đầu, nghiêm túc trong thực hiện các chương trình tín dụng chính sách theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, góp phần đạt mục tiêu chính sách đề ra. Hiện nay, Agribank chiếm thị phần khoảng 40% dư nợ cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn toàn ngành Ngân hàng.

Thực hiện Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với những chính sách về mở rộng đối tượng đầu tư, tăng mức đầu tư đối với khách hàng vay vốn đầu tư phát triển kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Agribank đã tập trung đầu tư vốn tín dụng cho tất cả các khách hàng là doanh nghiệp, hộ sản xuất và cá nhân kinh doanh thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Từ năm 2016 - 2020 dư nợ nông nghiệp nông thôn tăng trưởng bình quân 13,7%/năm, tỷ trọng dư nợ nông nghiệp nông thôn trong tổng dư nợ nền kinh tế của toàn hệ thống duy trì ở mức gần 70%.

Trong nhiều năm qua, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn chủ yếu tập trung vào các hộ gia đình, hộ kinh doanh tại khu vực nông thôn hoặc sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Tiếp đó là các doanh nghiệp, dư nợ cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ trọng 19 - 20%. Agribank tập trung cho vay thu mua và xuất khẩu lúa gạo, trồng cà phê, chế biến và xuất khẩu nông sản, thủy hải sản… Giai đoạn 2016 - 2020, doanh số cho vay ngành lúa gạo của Agribank đạt gần 250.000 tỷ đồng, dư nợ tăng đều qua các năm, đóng góp tích cực vào hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo của cả nước.

Dư nợ cho vay lúa gạo đến 2020 đạt 23.651 tỷ đồng với trên 52 nghìn khách hàng chiếm tỷ trọng 2.81% trên dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn, tốc độ tăng trưởng bình quân gần 10%; cho vay cà phê dư nợ đến 2020 là 24.048 tỷ đồng với trên 70 nghìn khách hàng, chiếm tỷ trọng 4,68% trên dư nợ nông nghiệp nông thôn, bình quân tăng trưởng trên 11,8%/năm, trong đó 84,7% dư nợ cho vay cà phê tập trung trong lĩnh vực trồng, chăm sóc cây cà phê…

Từ đầu năm 2020 đến nay, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 tốc độ tăng trưởng tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chậm lại so với năm 2019. Thực hiện Thông tư 01/TT-NHNN và Thông tư 03/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, Agribank đã ban hành các văn bản về hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Agribank triển khai gói tín dụng 100.000 tỷ đồng năm 2020 và năm 2021 nâng lên 200.000 tỷ đồng để hỗ trợ khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 để khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất. Agribank thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, giảm lãi suất cho vay đối với các khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch.

Từ khi dịch bùng phát đến nay, Agribank đã chung tay cùng ngành Ngân hàng giảm chỉ tiêu lợi nhuận 6.000 tỷ đồng hỗ trợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Những đóng góp của Agribank góp phần phát triển nông thôn mới và xóa đói giảm nghèo bền vững

Đối với chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và xóa đói giảm nghèo bền vững, từ cuối năm 2011, Agribank đã triển khai cho vay thí điểm xây dựng nông thôn mới tại 11 xã và đã triển khai rộng khắp trên cả nước đến 100% số xã.

Đến 31/12/2020, Agribank triển khai cho vay gần 9000 xã với doanh số trên 2.862.225 tỷ đồng, doanh số thu nợ là 2.824.047 tỷ đồng, dư nợ là 567.579 tỷ đồng. Nguồn vốn Agribank cho vay xây dựng nông thôn mới chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: Chi phí sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; phát triển ngành nghề nông nghiệp nông thôn; sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn.

Từ nguồn vốn Agribank, các dự án điện, đường, trường, trạm được triển khai; các hộ gia đình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, từng bước nâng cao năng suất, thu nhập, ổn định cuộc sống. Cũng từ nguồn vốn Agribank, những vùng chuyên canh sản xuất nông sản được hình thành và mang đến diện mạo mới cho nền nông nghiệp nước nhà: Vùng cây ăn quả ở Bắc Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, vùng lúa xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cây cà phê ở Tây Nguyên…

Agribank và hành trình đưa Nghị quyết 26 vào cuộc sống

Từ nguồn vốn Agribank nhiều hộ gia đình đã vươn lên làm giầu.

Với việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững và thông tư 06/2009/TT-NHNN quy định chi tiết về chính sách cho vay ưu đãi lãi suất theo Chương trình hỗ trợ các huyện nghèo tại Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2018 của Chính phủ, Agribank đã triển khai sâu rộng, hiệu quả. Giai đoạn 2009 - 2016, dư nợ và số lượng khách hàng theo chương trình này tăng đều qua các năm, dư nợ tăng gấp 8 lần, số lượng khách hàng tăng gấp 3 lần so với thời điểm bắt đầu vào năm 2009.

Việc triển khai đầu tư xây dựng các công trình từ nguồn vốn hỗ trợ của Agribank đã đóng góp một phần cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, qua đó tạo điều kiện cho các địa phương phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo nhanh, bền vững. Cùng với quyết tâm của Đảng và Nhà nước, bằng những hành động cụ thể, Agribank luôn thể hiện sự gắn bó đồng hành cùng nông dân, hỗ trợ những người kém may mắn trong xã hội, góp phần cùng ngành Ngân hàng thực hiện thành công mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo bền vững.

Bên cạnh đó, Agribank không ngừng triển khai các giải pháp tăng khả năng tiếp cận vốn của khách hàng, đặc biệt những khách hàng vùng sâu vùng xa. Agribank ký kết Nghị quyết liên tịch số 2308/NQLT/1999 với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Nghị quyết Liên tịch số 02/NQLT-2000 với Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam về việc thực hiện chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn.

Từ năm 2010 đến năm 2020 dư nợ cho vay qua tổ vay vốn tăng dần qua các năm, đặc biệt năm 2013 đánh dấu sự tham gia tích cực của các tổ chức hội khác ngoài hội phụ nữ và hội nông dân, dư nợ cho vay qua tổ vay vốn tăng trưởng nhanh và ổn định. Trong giai đoạn 2016 - 2020, Agribank đã ký 5.726 thỏa thuận hợp tác về cho vay qua tổ với các tổ chức chính trị xã hội, trong đó có 2.028 thỏa thuận đã được ký với Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp.

Từ năm 2020 đến nay, mặc dù do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng dư nợ cho vay qua tổ vẫn đạt mức tăng trưởng tốt với gần 8%/năm. Mô hình cho vay qua tổ vay vốn đã phát huy hiệu quả trong việc cho vay, thu nợ, cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, thẩm định dự án vay vốn, giải ngân, quản lý dư nợ… đảm bảo an toàn, hiệu quả. Nhiều đơn vị có sự kết hợp hiệu quả giữa cho vay qua tổ nhóm với mô hình dịch vụ ngân hàng lưu động. Dịch vụ ngân hàng lưu động của Agribank là kênh dẫn vốn hiệu quả tới vùng sâu vùng xa, thuận tiện cho khách hàng và góp phần quan trọng giảm tín dụng đen…

Trong suốt quá trình phát triển hơn 33 năm và đặc biệt trong mười lăm năm đưa Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X vào cuộc sống, Agribank đã thể hiện rõ vai trò và vị thế quan trọng của mình đối với sự phát triển của tam nông. Thông qua việc thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, các giải pháp tăng khả năng tiếp cận vốn vay của người dân, Agribank đã góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, từng bước nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho từng gia đình, đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội đất nước./.

Bài và ảnh: Thanh Bình

Đọc thêm

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

(TBTCO) - Với khả năng cung cấp vốn trung và dài hạn, tài trợ tới 100% giá trị thiết bị và dùng dòng tiền khai thác để trả tiền thuê, cho thuê tài chính có nhiều lợi thế với y tế tư nhân. Tuy nhiên, dư nợ cho thuê tài chính thiết bị y tế mới khoảng 1.000 tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ “nút thắt”, có chính sách đặc thù để mở rộng kênh vốn này.
Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,940 ▼20K 14,540 ▼20K
Trang sức 99.99 13,950 ▼20K 14,550 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,428 ▼7K 14,582 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,428 ▼7K 14,583 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲1280K 1,453 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲1280K 1,454 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,398 ▼7K 1,443 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,871 ▼693K 142,871 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,586 ▼525K 108,386 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,484 ▲79588K 98,284 ▲88408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,382 ▼427K 88,182 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,485 ▼408K 84,285 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,529 ▼292K 60,329 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cập nhật: 17/09/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17964 18239 18814
CAD 18043 18318 18936
CHF 30895 31272 31909
CNY 0 3833 3929
EUR 29193 29413 30494
GBP 34000 34390 35325
HKD 0 3182 3385
JPY 160 163 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14600 15186
SGD 19839 20121 20699
THB 695 758 811
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26178
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 29,242 29,265 30,659
JPY 162.53 162.82 172.67
GBP 34,183 34,276 35,461
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,230 18,289 18,965
CHF 31,153 31,250 32,175
SGD 19,959 20,021 20,807
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.34 18.08 19.67
THB 743.36 752.54 806.01
NZD 14,588 14,723 15,162
SEK - 2,601 2,692
DKK - 3,922 4,061
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,931.92 - 6,695.46
TWD 736.25 - 892
SAR - 6,800.69 7,163.63
KWD - 82,300 87,574
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,244 29,361 30,555
GBP 34,159 34,296 35,321
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,952 31,076 32,013
JPY 162.50 163.15 171.13
AUD 18,099 18,172 18,764
SGD 19,999 20,079 20,667
THB 759 762 799
CAD 18,242 18,315 18,904
NZD 14,615 15,157
KRW 18.02 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18113 18213 19136
CAD 18221 18321 19336
CHF 31061 31091 32676
CNY 3814.1 3839.1 3974.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29332 29362 31087
GBP 34246 34296 36067
HKD 0 3305 0
JPY 162.97 163.47 173.99
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14669 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19979 20109 20830
THB 0 722.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14280000 14280000 14580000
SBJ 13000000 13000000 14580000
Cập nhật: 17/09/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30