Áp lực lạm phát khó đảo ngược chính sách lãi suất, ít nhất trong 3 - 6 tháng tới

Thái Duy
Mặc dù không kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ cắt giảm thêm các lãi suất chính sách chủ chốt của mình, nhưng các chuyên gia của VNDIRECT cho rằng, Ngân hàng Nhà nước sẽ không nâng lãi suất này điều hành trong vòng 3 - 6 tháng tới nhằm hỗ trợ nền kinh tế phục hồi.
aa

Lãi suất huy động tăng nhẹ trong quý I

Lãi suất liên ngân hàng đã giảm trong tháng 3 sau khi tăng trong hai tháng đầu năm. Theo Bloomberg, tính đến ngày 31/3/2022, lãi suất qua đêm ở mức 1,9%/năm, giảm 43 điểm cơ bản so với mức cuối tháng 2/2022. Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tuần đến 1 năm giảm 5 - 34 điểm cơ bản so với cuối tháng 2/2022.

Áp lực lạm phát khó đảo ngược chính sách lãi suất, ít nhất trong 3 - 6 tháng tới

Về lãi suất huy động, đã tăng nhẹ từ 7 – 8 điểm cơ bản trong quý I/2022. Theo các chuyên gia của Công ty Chứng khoán VNDIRECT (VNDIRECT), lãi suất huy động khó có thể duy trì ở mức thấp lịch sử trong năm 2022.

Lý giải về điều này, chuyên gia của VNDIRECT đã đưa ra 3 nguyên nhân: nhu cầu huy động vốn cao hơn khi tín dụng tăng tốc; áp lực lạm phát ở Việt Nam sẽ gia tăng trong năm nay; cạnh tranh gay gắt hơn với các kênh đầu tư khác như bất động sản, chứng khoán để thu hút dòng vốn.

Theo thống kê của của VNDIRECT, tính đến ngày 28/3/2022, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng và lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng quốc doanh không đổi so với mức cuối năm 2021, trong khi lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng và lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân lần lượt tăng 7 điểm cơ bản và 8 điểm cơ bản so với mức cuối năm 2021.

“Chúng tôi kỳ vọng lãi suất huy động sẽ tăng nhẹ 30 - 50 điểm cơ bản vào năm 2022. Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại có thể tăng lên mức 5,9 - 6,1%/năm vào cuối năm 2022 (hiện là 5,6%/năm), vẫn thấp hơn so với mức trước đại dịch là 7,0%/năm” – chuyên gia của VNDIRECT dự báo.

Lãi suất điều hành có thể chưa tăng để hỗ trợ kinh tế

Nhận định về chính sách tiền tệ trong thời gian tới, các chuyên gia của VNDIRECT cho rằng, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng cho đến ít nhất là cuối quý II/2022.

Theo các chuyên gia này, mặc dù áp lực lạm phát dự kiến sẽ gia tăng trong những tháng tới, nhưng chỉ số giá tiêu dùng bình quân nửa đầu năm 2022 dự báo ở mức 2,5% so với cùng kỳ, vẫn thấp hơn nhiều so với mức trần 4%. Cùng với đó, sức cầu trong nước vẫn tương đối yếu, chưa phục hồi hoàn toàn về mức bình thường trước đại dịch. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước vẫn ưu tiên mục tiêu duy trì lãi suất cho vay thấp để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi sau đại dịch.

“Mặc dù chúng tôi không kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ cắt giảm thêm các lãi suất chính sách chủ chốt của mình, nhưng chúng tôi cũng tin rằng, cơ quan này sẽ không nâng lãi suất này điều hành trong vòng 3 - 6 tháng tới nhằm hỗ trợ nền kinh tế phục hồi” – chuyên gia của VNDIRECT cho hay.

Cũng theo các chuyên gia này, Ngân hàng Nhà nước sẽ hỗ trợ thị trường thông qua hoạt động thị trường mở, chẳng hạn như bơm thanh khoản tiền đồng, mua vào ngoại hối hay nâng trần tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại.

VNDIRECT dự báo tăng trưởng tín dụng sẽ tăng 14% so với cùng kỳ trong năm 2022. Dòng vốn tín dụng sẽ được ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên như công nghiệp, xuất nhập khẩu, nông, lâm nghiệp, thủy sản.

Về lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện gói cấp bù lãi suất với quy mô 3.000 tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước đưa ra mức lãi suất cho vay chỉ 3 - 4%/năm đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng mạnh bởi đại dịch Covid-19.

Ngoài ra, Chính phủ có kế hoạch mở rộng quy mô gói cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp lên 40.000 tỷ đồng, tập trung vào một số đối tượng ưu tiên, bao gồm: doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp tham gia một số của các dự án trọng điểm quốc gia; và kinh doanh trong một số ngành nhất định (du lịch, hàng không, giao thông vận tải).

VNDIRECT kỳ vọng rằng, gói cấp bù lãi suất có thể giúp giảm mặt bằng lãi suất cho vay trung bình từ 20 - 40 điểm cơ bản trong năm 2022. Tuy nhiên, tác động thực tế của gói cấp bù lãi suất đối với doanh nghiệp và nền kinh tế có thể thấp hơn nếu các ngân hàng thương mại tăng lãi suất cho vay đối với các khoản vay thông thường khác để bù đắp việc tăng lãi suất huy động./.

Thái Duy

Đọc thêm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Tỷ giá USD hôm nay (28/8): USD chờ thông điệp từ Fed, nhiều ngân hàng trung ương lớn phát tín hiệu tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (28/8): USD chờ thông điệp từ Fed, nhiều ngân hàng trung ương lớn phát tín hiệu tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 28/8, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.610 đồng; chỉ số DXY giảm nhẹ 0,01% xuống 99,13 điểm khi thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole. Trong khi đó, kỳ vọng thắt chặt tiền tệ gia tăng khi xác suất các ngân hàng trung ương lớn như: ECB tăng lãi suất tháng 9 lên gần 96%, cùng triển vọng BoJ cũng nâng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

Giá vàng hôm nay ngày 28/8: Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước giảm trên diện rộng, với vàng nhẫn ghi nhận mức điều chỉnh mạnh nhất lên tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 06:30
Ngân hàng