Cuộc đua chuyển đổi số ngành Ngân hàng vào chặng tăng tốc

Bài 2: Cạnh tranh bước vào hồi gay cấn

Chí Tín
(TBTCO) - Những động thái thực tế trong hoạt động chuyển đổi số ngân hàng đã góp phần làm đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, đáp ứng rộng rãi nhu cầu của người dân. Bên cạnh đó, cuộc cạnh tranh dần tăng nhiệt trước các loại dịch vụ và các danh mục chi phí kèm theo phức tạp, khách hàng khi sử dụng dịch vụ có thể không kiểm soát được các loại phí phát sinh ngoài ý muốn.
aa
Cuộc đua chuyển đổi số ngành Ngân hàng vào chặng tăng tốc Cuộc đua chuyển đổi số ngành Ngân hàng vào chặng tăng tốc

Trăm hoa đua nở các sản phẩm dịch vụ số hóa

Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, ngân hàng Việt Nam được đánh giá có mức độ ứng dụng ngân hàng số với tốc độ nhanh nhất trong khu vực, trong đó, mảng công nghệ thanh toán là mảng hoạt động tương đối sôi động thời gian qua. Đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã cấp chứng nhận 50 giấy phép trung gian thanh toán cho các công ty Fintech ở Việt Nam. Trong hơn 2 năm vừa qua, dù trải qua đại dịch Covid-19, các ngân hàng thương mại nhờ ứng dụng công nghệ mới đã có thể mở rộng và kiếm thêm hàng triệu khách hàng. Thanh toán trên thiết bị di động tăng trưởng mạnh hàng năm 90% về số lượng và 50% về giá trị, nhiều ngân hàng có trên 90% giao dịch trên kênh số.

Đó là bối cảnh chung, thực tế cho thấy hoạt động chuyển đổi số thể hiện qua các sản phẩm, dịch vụ mới đã diễn ra khá rộng rãi, với sự nhập cuộc hầu hết các tên tuổi lớn trong lĩnh vực ngân hàng.

Bài 2: Cạnh tranh bước vào hồi gay cấn
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Một trong những ứng dụng nổi bật được nhiều ngân hàng lớn triển khai từ năm 2022 là ứng dụng rút tiền bằng thẻ căn cước công dân gắn chip. Đây là ứng dụng mới sử dụng giải pháp xác thực MoC (Matching on Card) để đọc và xác thực dữ liệu từ căn cước công dân gắn chip với dữ liệu thông tin của khách hàng tại ngân hàng. Theo đó, khách hàng có thể thực hiện giao dịch rút tiền mặt từ nguồn thẻ ghi nợ nội địa của khách hàng tại điểm giao dịch ATM của ngân hàng bằng chính tấm thẻ căn cước công dân gắn chip, mà không cần sử dụng thẻ ngân hàng vật lý.

Ngoài ra, rất nhiều ứng dụng ngân hàng khác được các ngân hàng chào mời thời gian qua, điều này cũng tạo nên một bức tranh đa mầu sắc trong các dịch vụ ngân hàng gắn với công nghệ số.

Một số ví dụ có thể kể đến như, vừa qua, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đưa ra dịch vụ cho phép khách hàng tự do sáng tạo số tài khoản theo cách riêng; Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) thông báo triển khai giải pháp ký trực tiếp trên thiết bị chấp nhận thẻ và lưu trữ biên lai cà thẻ điện tử; Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) vừa ra mắt Ngân hàng di động MyVIB phiên bản 2.0 sử dụng công nghệ thực tế tăng cường (AR) và Cloud - native, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) đưa vào ứng dụng Robot trợ lý Saha trực tiếp phục vụ khách hàng…

Tăng nguồn thu cho ngân hàng

Sự chuyển đổi công nghệ và phát triển các sản phẩm dịch vụ mới là một trong những yếu tố hỗ trợ các ngân hàng cải thiện lợi nhuận trong thời gian qua, bên cạnh lợi nhuận từ hoạt động tín dụng truyền thống. Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Học viện Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, lợi nhuận các ngân hàng tăng trong nửa đầu năm 2022 cũng có một phần từ kết quả chuyển đổi số tại một số ngân hàng. “Chuyển đổi số đã giúp các ngân hàng tiết giảm được chi phí hơn và việc có nhiều sản phẩm dịch vụ mới cũng góp phần tăng nguồn thu cho ngân hàng” - ông Linh nói.

Ngân hàng là lĩnh vực có tác động lớn đến xã hội

Kế hoạch “Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” của Chính phủ đã nêu rõ ngân hàng là lĩnh vực có tác động xã hội, liên quan hàng ngày tới người dân.

Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của các ngân hàng là phát triển mô hình ngân hàng số, gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng và thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện, phát triển bền vững trên cơ sở thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến trong quản trị điều hành và cung ứng sản phẩm dịch vụ theo hướng tự động hoá quy trình, tối ưu hoá hoạt động nghiệp vụ.

Tuy nhiên trong cuộc cạnh tranh đang diễn ra, những thông tin “nhảy múa” về phí cũng xuất hiện phần nào gây “nhiễu” cho người tiêu dùng. Một trong những trường hợp thay đổi thất thường vừa qua là Công ty tài chính VietCredit thông tin việc tăng phí rút tiền từ thẻ ATM có logo Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas) từ 8.800 VND (gồm VAT)/giao dịch, lên 9.350 VNĐ (gồm VAT)/giao dịch do Napas điều chỉnh tăng phí. Tuy nhiên, trao đổi với phóng viên TBTCVN thời điểm đó, đại diện Napas cho biết, họ hoàn toàn không có chính sách tăng phí. Sau đó vài hôm, VietCredit lại ra thông báo khác là từ 23h ngày 4/7/2022 đến 23h ngày 30/9/2022, VietCredit chính thức giảm phí rút tiền từ thẻ tín dụng nội địa VietCredit qua các ATM có logo Napas xuống còn 8.800 VND/giao dịch.

Trên đây là một ví dụ nhỏ, trên thực tế, các ngân hàng và công ty tài chính khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng cũng có những mức biểu phí khá phức tạp và khách hàng khi tiếp cận lần đầu khó có thể nhớ và nắm bắt hết được. Trong khi đó, người sử dụng không phải ai cũng có thói quen chú tâm đến việc kiểm soát chi phí khi sử dụng dịch vụ. Ví dụ, một tấm thẻ ghi nợ nội địa ngân hàng kèm một tài khoản thanh toán cũng thường phải “đeo” khá nhiều loại phí khác nhau như phí phát hành, phí thường niên, phí cấp lại PIN, phí in sao kê, phí rút tiền, phí quản lý tài khoản, phí dịch vụ tin nhắn… Khách hàng khi sử dụng dịch vụ nhiều khi cũng không nắm rõ hết được các loại phí mà mình phải trả, còn các ngân hàng và công ty tài chính thường trích thẳng tiền từ tài khoản khách hàng để trừ các khoản phí.

Chí Tín

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80