Bảo vệ giá trị tiền VND trong cuộc "đối đầu" đồng USD

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động mạnh, sự chênh lệch tỷ giá giữa đồng Việt Nam (VND) và đồng đô la Mỹ (USD) đang trở thành một vấn đề nóng được giới chuyên gia tài chính, doanh nghiệp và nhà đầu tư đặc biệt quan tâm. Trước những thách thức này, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh chính sách linh hoạt và phối hợp đa dạng các công cụ để bảo vệ giá trị tiền đồng, ổn định thị trường và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
aa
Bảo vệ giá trị tiền VND trong cuộc "đối đầu" đồng USD
Dự trữ ngoại hối giúp Ngân hàng Nhà nước có dư địa can thiệp vào thị trường ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá và đảm bảo thanh khoản. Ảnh tư liệu

Tỷ giá hối đoái giữa đồng VND và USD trải qua nhiều biến động giai đoạn 2020 - 2025, ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế. Trong đó, năm 2020 - 2022, tỷ giá VND/USD duy trì ổn định nhờ chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Năm 2023 - 2024, tỷ giá trung tâm tăng trên 700 VND, phản ánh áp lực từ thị trường quốc tế và nhu cầu ngoại tệ trong nước.

Nhìn lại biến động tỷ giá những năm gần đây

Đầu năm 2025, tỷ giá VND/USD trải qua những biến động đáng kể, phản ánh sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố kinh tế trong và ngoài nước. Ngày 10/1/2025, tỷ giá trung tâm do NHNN công bố đạt 24.338 VND/USD, tăng 8 VND so với ngày trước đó. Đây là lần tăng thứ ba liên tiếp trong tuần đầu năm 2025.

Bảo vệ giá trị tiền VND trong cuộc "đối đầu" đồng USD

Đảm bảo sự ổn định bền vững cho tiền đồng

Ngân hàng Nhà nước cần điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, cân bằng giữa ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng. Các giải pháp bao gồm điều chỉnh lãi suất phù hợp, quản lý dòng vốn hiệu quả và kiểm soát rủi ro từ nợ công ngoại tệ. Về dài hạn, cần nâng cao năng suất kinh tế, phát triển thị trường tài chính và đẩy mạnh thanh toán bằng nội tệ để giảm phụ thuộc vào USD, đảm bảo sự ổn định bền vững cho tiền đồng. PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế

Đến ngày 17/2/2025, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng lên mức 24.562 VND/USD. Trên thị trường tự do, tỷ giá mua vào đạt 25.650 VND/USD và bán ra ở mức 25.750 VND/USD, cao hơn so với mức niêm yết tại các ngân hàng thương mại. Thị trường quốc tế, sự mạnh lên của USD khiến VND mất giá, dẫn đến NHNN phải điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm để phản ánh đúng cung cầu thị trường.

Trong bối cảnh này, NHNN sử dụng nhiều công cụ để điều hành chính sách tiền tệ, bao gồm chính sách lãi suất, quản lý dự trữ ngoại hối và điều tiết thanh khoản thông qua chính sách tín dụng.

Theo đó, NHNN điều chỉnh lãi suất nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá hối đoái. Việc tăng lãi suất nội tệ có thể thu hút dòng vốn đầu tư, tăng giá trị của VND so với ngoại tệ. Ngược lại, giảm lãi suất có thể gây áp lực lên tỷ giá do dòng vốn chảy ra. Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh, việc giảm lãi suất quá mức có thể dẫn đến tăng tỷ giá, ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, NHNN phải cân bằng giữa việc giảm lãi suất để hỗ trợ kinh tế và ổn định tỷ giá.

Dự trữ ngoại hối là công cụ quan trọng giúp NHNN can thiệp vào thị trường ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá và đảm bảo thanh khoản. Theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB), dự trữ ngoại hối của Việt Nam đến cuối năm 2021 đạt mức cao nhất từ trước đến nay, tăng gấp 8 lần so với cuối năm 2011, tương ứng gần 96 tỷ USD, giúp nền kinh tế có nguồn lực dồi dào để ổn định tỷ giá và ứng phó với biến động tài chính toàn cầu. Vào tháng 11/2024, trước biến động của thị trường sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất, NHNN đã bán USD để giữ ổn định tỷ giá.

NHNN điều hành chính sách tín dụng nhằm đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế và hỗ trợ tăng trưởng. Cuối năm 2024, tín dụng ngân hàng tăng 15,08% so với cuối năm 2023. Để hỗ trợ lĩnh vực ưu tiên, NHNN triển khai gói cho vay ưu đãi phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp và ngành thủy sản. Tuy nhiên, Thống đốc cũng lưu ý, tổng dư nợ cho vay đạt mức 120% GDP, do đó, cần thận trọng nới lỏng chính sách tín dụng, tránh rủi ro.

Nâng cao sức mạnh đồng nội tệ trong dài hạn

Dựa trên các số liệu trên, một số khuyến nghị chính sách bao gồm: duy trì chính sách lãi suất linh hoạt, cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát để tránh gây áp lực lên tỷ giá; kiểm soát dòng vốn FDI và FII bằng cách có chính sách khuyến khích giải ngân FDI, đồng thời giám sát dòng vốn đầu tư gián tiếp để tránh biến động lớn.

Cùng với đó, tăng cường dự trữ ngoại hối, đảm bảo đủ khả năng can thiệp vào thị trường khi cần thiết; hạn chế vay nợ công bằng ngoại tệ, tập trung phát hành trái phiếu bằng VND để giảm rủi ro tỷ giá; tăng cường hợp tác tiền tệ với các nước để giảm sự phụ thuộc vào USD, ví dụ như mở rộng thanh toán thương mại bằng đồng tiền quốc gia thay vì USD.

Về dài hạn, để nâng cao sức mạnh của VND trong bối cảnh cạnh tranh với đồng USD, NHNN có thể xem xét các chiến lược sau. Thứ nhất, cải thiện năng suất nền kinh tế để tăng sức cạnh tranh. Theo WB, năng suất của doanh nghiệp Việt Nam thấp hơn so với mức trung bình của khu vực và quốc tế. Việc đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện hiệu quả quản lý sẽ giúp tăng năng suất, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và củng cố giá trị của VND.

Thứ hai, phát triển thị trường tài chính trong nước nhằm giảm phụ thuộc vào USD. Thị trường tài chính Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, nhưng vẫn cần mở rộng và đa dạng hóa hơn nữa. Từ năm 2011 - 2023, tỷ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP tăng từ gần 80% lên khoảng 130%, trong khi tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán so với GDP tăng từ hơn 15% lên 65,2%. Việc tiếp tục phát triển các kênh huy động vốn nội địa như thị trường trái phiếu và cổ phiếu, sẽ giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại tệ và ổn định giá trị VND.

Thứ ba, đẩy mạnh thanh toán bằng nội tệ trong thương mại quốc tế. Việc sử dụng VND trong các giao dịch thương mại quốc tế còn hạn chế, phần lớn các giao dịch xuất nhập khẩu của Việt Nam đều được thanh toán bằng USD. Để giảm sự phụ thuộc vào USD, Việt Nam cần thúc đẩy việc ký kết các thỏa thuận thanh toán song phương bằng nội tệ với các đối tác thương mại chính. Điều này không chỉ giảm rủi ro tỷ giá mà còn tăng cường vị thế của VND trên thị trường quốc tế.

Các kịch bản điều hành chính sách tiền tệ

Dựa trên tình hình kinh tế Việt Nam năm 2024 và các định hướng chính sách của NHNN cho năm 2025, PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế đưa ra phân tích các kịch bản điều chỉnh chính sách tiền tệ như sau:

Kịch bản 1: Ổn định tỷ giá thông qua can thiệp trực tiếp. Năm 2024, Việt Nam đạt thặng dư thương mại 24,77 tỷ USD, với kim ngạch xuất khẩu đạt 405,53 tỷ USD, tăng 14,3%. Điều này tạo điều kiện cho NHNN can thiệp thị trường ngoại hối bằng cách bán ngoại tệ để ổn định tỷ giá khi cần thiết. Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện thận trọng, tránh ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối và thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Kịch bản 2: Tăng lãi suất điều hành để bảo vệ giá trị VND. Lạm phát năm 2024 được kiểm soát ở mức 3,63%, song với mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm 2025, áp lực lạm phát có thể gia tăng. Việc tăng lãi suất điều hành có thể xem xét để kiểm soát lạm phát và bảo vệ giá trị VND. Tuy nhiên, điều này có thể ảnh hưởng đến chi phí vay vốn của doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Kịch bản 3: Nới lỏng chính sách tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm 2025, NHNN có thể tiếp tục duy trì hoặc giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn. Tuy nhiên, việc nới lỏng chính sách tiền tệ cần được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá. Theo Phó Thống đốc NHNN, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hiện rất hạn hẹp, do đó cần phối hợp với chính sách tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng.

Kịch bản 4: Kết hợp linh hoạt các biện pháp để giảm thiểu rủi ro. Trước những thách thức kinh tế và mục tiêu tăng trưởng cao, NHNN có thể áp dụng một chính sách tiền tệ linh hoạt, kết hợp giữa ổn định tỷ giá, điều chỉnh lãi suất và các biện pháp khác để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiểm soát lạm phát.

Tóm lại, NHNN có thể sẽ áp dụng một chính sách tiền tệ linh hoạt và phối hợp đa dạng các công cụ để vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tài chính trong năm 2025./. Ánh Tuyết

PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế

Đọc thêm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80