Bảo vệ giá trị tiền VND trong cuộc "đối đầu" đồng USD

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động mạnh, sự chênh lệch tỷ giá giữa đồng Việt Nam (VND) và đồng đô la Mỹ (USD) đang trở thành một vấn đề nóng được giới chuyên gia tài chính, doanh nghiệp và nhà đầu tư đặc biệt quan tâm. Trước những thách thức này, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh chính sách linh hoạt và phối hợp đa dạng các công cụ để bảo vệ giá trị tiền đồng, ổn định thị trường và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
aa
Bảo vệ giá trị tiền VND trong cuộc "đối đầu" đồng USD
Dự trữ ngoại hối giúp Ngân hàng Nhà nước có dư địa can thiệp vào thị trường ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá và đảm bảo thanh khoản. Ảnh tư liệu

Tỷ giá hối đoái giữa đồng VND và USD trải qua nhiều biến động giai đoạn 2020 - 2025, ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế. Trong đó, năm 2020 - 2022, tỷ giá VND/USD duy trì ổn định nhờ chính sách tiền tệ linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Năm 2023 - 2024, tỷ giá trung tâm tăng trên 700 VND, phản ánh áp lực từ thị trường quốc tế và nhu cầu ngoại tệ trong nước.

Nhìn lại biến động tỷ giá những năm gần đây

Đầu năm 2025, tỷ giá VND/USD trải qua những biến động đáng kể, phản ánh sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố kinh tế trong và ngoài nước. Ngày 10/1/2025, tỷ giá trung tâm do NHNN công bố đạt 24.338 VND/USD, tăng 8 VND so với ngày trước đó. Đây là lần tăng thứ ba liên tiếp trong tuần đầu năm 2025.

Bảo vệ giá trị tiền VND trong cuộc "đối đầu" đồng USD

Đảm bảo sự ổn định bền vững cho tiền đồng

Ngân hàng Nhà nước cần điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, cân bằng giữa ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng. Các giải pháp bao gồm điều chỉnh lãi suất phù hợp, quản lý dòng vốn hiệu quả và kiểm soát rủi ro từ nợ công ngoại tệ. Về dài hạn, cần nâng cao năng suất kinh tế, phát triển thị trường tài chính và đẩy mạnh thanh toán bằng nội tệ để giảm phụ thuộc vào USD, đảm bảo sự ổn định bền vững cho tiền đồng. PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế

Đến ngày 17/2/2025, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng lên mức 24.562 VND/USD. Trên thị trường tự do, tỷ giá mua vào đạt 25.650 VND/USD và bán ra ở mức 25.750 VND/USD, cao hơn so với mức niêm yết tại các ngân hàng thương mại. Thị trường quốc tế, sự mạnh lên của USD khiến VND mất giá, dẫn đến NHNN phải điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm để phản ánh đúng cung cầu thị trường.

Trong bối cảnh này, NHNN sử dụng nhiều công cụ để điều hành chính sách tiền tệ, bao gồm chính sách lãi suất, quản lý dự trữ ngoại hối và điều tiết thanh khoản thông qua chính sách tín dụng.

Theo đó, NHNN điều chỉnh lãi suất nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá hối đoái. Việc tăng lãi suất nội tệ có thể thu hút dòng vốn đầu tư, tăng giá trị của VND so với ngoại tệ. Ngược lại, giảm lãi suất có thể gây áp lực lên tỷ giá do dòng vốn chảy ra. Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh, việc giảm lãi suất quá mức có thể dẫn đến tăng tỷ giá, ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, NHNN phải cân bằng giữa việc giảm lãi suất để hỗ trợ kinh tế và ổn định tỷ giá.

Dự trữ ngoại hối là công cụ quan trọng giúp NHNN can thiệp vào thị trường ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá và đảm bảo thanh khoản. Theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB), dự trữ ngoại hối của Việt Nam đến cuối năm 2021 đạt mức cao nhất từ trước đến nay, tăng gấp 8 lần so với cuối năm 2011, tương ứng gần 96 tỷ USD, giúp nền kinh tế có nguồn lực dồi dào để ổn định tỷ giá và ứng phó với biến động tài chính toàn cầu. Vào tháng 11/2024, trước biến động của thị trường sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất, NHNN đã bán USD để giữ ổn định tỷ giá.

NHNN điều hành chính sách tín dụng nhằm đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế và hỗ trợ tăng trưởng. Cuối năm 2024, tín dụng ngân hàng tăng 15,08% so với cuối năm 2023. Để hỗ trợ lĩnh vực ưu tiên, NHNN triển khai gói cho vay ưu đãi phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp và ngành thủy sản. Tuy nhiên, Thống đốc cũng lưu ý, tổng dư nợ cho vay đạt mức 120% GDP, do đó, cần thận trọng nới lỏng chính sách tín dụng, tránh rủi ro.

Nâng cao sức mạnh đồng nội tệ trong dài hạn

Dựa trên các số liệu trên, một số khuyến nghị chính sách bao gồm: duy trì chính sách lãi suất linh hoạt, cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát để tránh gây áp lực lên tỷ giá; kiểm soát dòng vốn FDI và FII bằng cách có chính sách khuyến khích giải ngân FDI, đồng thời giám sát dòng vốn đầu tư gián tiếp để tránh biến động lớn.

Cùng với đó, tăng cường dự trữ ngoại hối, đảm bảo đủ khả năng can thiệp vào thị trường khi cần thiết; hạn chế vay nợ công bằng ngoại tệ, tập trung phát hành trái phiếu bằng VND để giảm rủi ro tỷ giá; tăng cường hợp tác tiền tệ với các nước để giảm sự phụ thuộc vào USD, ví dụ như mở rộng thanh toán thương mại bằng đồng tiền quốc gia thay vì USD.

Về dài hạn, để nâng cao sức mạnh của VND trong bối cảnh cạnh tranh với đồng USD, NHNN có thể xem xét các chiến lược sau. Thứ nhất, cải thiện năng suất nền kinh tế để tăng sức cạnh tranh. Theo WB, năng suất của doanh nghiệp Việt Nam thấp hơn so với mức trung bình của khu vực và quốc tế. Việc đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện hiệu quả quản lý sẽ giúp tăng năng suất, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và củng cố giá trị của VND.

Thứ hai, phát triển thị trường tài chính trong nước nhằm giảm phụ thuộc vào USD. Thị trường tài chính Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, nhưng vẫn cần mở rộng và đa dạng hóa hơn nữa. Từ năm 2011 - 2023, tỷ lệ tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP tăng từ gần 80% lên khoảng 130%, trong khi tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán so với GDP tăng từ hơn 15% lên 65,2%. Việc tiếp tục phát triển các kênh huy động vốn nội địa như thị trường trái phiếu và cổ phiếu, sẽ giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngoại tệ và ổn định giá trị VND.

Thứ ba, đẩy mạnh thanh toán bằng nội tệ trong thương mại quốc tế. Việc sử dụng VND trong các giao dịch thương mại quốc tế còn hạn chế, phần lớn các giao dịch xuất nhập khẩu của Việt Nam đều được thanh toán bằng USD. Để giảm sự phụ thuộc vào USD, Việt Nam cần thúc đẩy việc ký kết các thỏa thuận thanh toán song phương bằng nội tệ với các đối tác thương mại chính. Điều này không chỉ giảm rủi ro tỷ giá mà còn tăng cường vị thế của VND trên thị trường quốc tế.

Các kịch bản điều hành chính sách tiền tệ

Dựa trên tình hình kinh tế Việt Nam năm 2024 và các định hướng chính sách của NHNN cho năm 2025, PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế đưa ra phân tích các kịch bản điều chỉnh chính sách tiền tệ như sau:

Kịch bản 1: Ổn định tỷ giá thông qua can thiệp trực tiếp. Năm 2024, Việt Nam đạt thặng dư thương mại 24,77 tỷ USD, với kim ngạch xuất khẩu đạt 405,53 tỷ USD, tăng 14,3%. Điều này tạo điều kiện cho NHNN can thiệp thị trường ngoại hối bằng cách bán ngoại tệ để ổn định tỷ giá khi cần thiết. Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện thận trọng, tránh ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối và thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Kịch bản 2: Tăng lãi suất điều hành để bảo vệ giá trị VND. Lạm phát năm 2024 được kiểm soát ở mức 3,63%, song với mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm 2025, áp lực lạm phát có thể gia tăng. Việc tăng lãi suất điều hành có thể xem xét để kiểm soát lạm phát và bảo vệ giá trị VND. Tuy nhiên, điều này có thể ảnh hưởng đến chi phí vay vốn của doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Kịch bản 3: Nới lỏng chính sách tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm 2025, NHNN có thể tiếp tục duy trì hoặc giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn. Tuy nhiên, việc nới lỏng chính sách tiền tệ cần được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá. Theo Phó Thống đốc NHNN, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ hiện rất hạn hẹp, do đó cần phối hợp với chính sách tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng.

Kịch bản 4: Kết hợp linh hoạt các biện pháp để giảm thiểu rủi ro. Trước những thách thức kinh tế và mục tiêu tăng trưởng cao, NHNN có thể áp dụng một chính sách tiền tệ linh hoạt, kết hợp giữa ổn định tỷ giá, điều chỉnh lãi suất và các biện pháp khác để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiểm soát lạm phát.

Tóm lại, NHNN có thể sẽ áp dụng một chính sách tiền tệ linh hoạt và phối hợp đa dạng các công cụ để vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tài chính trong năm 2025./. Ánh Tuyết

PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80