Có nên điều chỉnh tỷ giá?

Hồng Sâm
(TBTCVN) - Trong thời gian gần đây, câu hỏi “điều chỉnh hay không điều chỉnh tỷ giá?” là vấn đề được tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn.
aa

Xoay quanh vấn đề này, phóng viên TBTCVN đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Tuyết Anh, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính ngay bên lề Hội thảo “Chính sách tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” vừa được tổ chức mới đây tại Hà Nội.

>> Tỷ giá VND/USD: Đã đến lúc điều chỉnh hay chưa?

Tỷ giá
Việc tăng tỷ giá cần thiết phải được cân nhắc đến nhiều yếu tố và lựa chọn phương thức và thời điểm thích hợp

PV: Là một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, xin bà cho biết vì sao tỷ giá lại biến động?

Bà Nguyễn Thị Tuyết Anh: Tỷ giá biến động trong những ngày qua, theo giải thích của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chủ yếu là do yếu tố tâm lý, chứ không xuất phát từ cân đối cung cầu ngoại tệ. Thông tin từ NHNN cũng cho thấy, cán cân thanh toán của Việt Nam thặng dư 2,8 tỷ USD trong quý I/2015, NHNN vẫn mua ròng ngoại tệ, và cho đến thời điểm này vẫn không phải bán dự trữ ngoại tệ để can thiệp thị trường, và mọi hoạt động trên thị trường ngoại hối vẫn ổn định thông suốt .

Có nên điều chỉnh tỷ giá?
Tỷ giá có thể tăng cao hơn biên độ đã định hướng, do điều kiện thực tế có nhiều thay đổi. Việc tăng tỷ giá có thể thực hiện thông qua việc tăng từ từ tỉ giá liên ngân hàng, hoặc nới rộng biên độ cho phép đối với các ngân hàng thương mại... Bà Nguyễn Thị Tuyết Anh

Việc giá cả có xu hướng ổn định, việc lạm phát thấp, lãi suất tiết kiệm thực đạt mức cao, lãi suất cho vay thấp, cho thấy nhu cầu nắm giữ USD đã không còn mạnh như trước đây. Dòng tiền gửi tiết kiệm bằng tiền đồng vào các ngân hàng vẫn cao, các nhu cầu về ngoại tệ cho sản xuất, nhập khẩu đều được đáp ứng và các giao dịch USD cũng vẫn được thực hiện trong biên độ do NHNN quy định.

PV: Thưa bà, mặc dù cách giải thích này có nhiều phần hợp lý, tuy nhiên vẫn có một câu hỏi được đặt ra: Tại sao trên thị trường lại xuất hiện xu hướng đầu cơ giá lên trong khi nguồn cung USD không hề thiếu ?

Bà Nguyễn Thị Tuyết Anh: Đầu cơ thường dựa vào kỳ vọng của thị trường, và những kỳ vọng về việc tỉ giá có thể tăng trong thời gian tới không phải là không có cơ sở. Cơ sở đầu tiên cho kỳ vọng tăng tỷ giá là đồng USD đang lên giá mạnh trên thị trường thế giới. Trong vòng 6 tháng vừa qua, đồng USD tăng giá hơn 25% so với những đồng tiền chủ chốt như EUR, Yên Nhật, Đô la Úc…

Đồng tiền của nhiều nước trong khu vực cũng đang theo sát diễn biến lên giá của USD, có nghĩa là, đồng nội tệ của các nước trong khu vực cũng đang bị phá giá. Bên cạnh đó, nếu tiếp tục giữ tỷ giá, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu cũng như tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trên thực tế, khu vực xuất khẩu đang trong bối cảnh bất lợi, đặc biệt là xuất khẩu nông thủy sản và các sản phẩm nông nghiệp khác.

Bên cạnh đó, NHNN đưa ra thông điệp tiếp tục điều chỉnh tỉ giá “ổn định trong biên độ” đề ra từ đầu năm cũng làm cho thị trường có kỳ vọng sẽ tăng tỷ giá trong thời gian gần. Chính vì thế, thị trường chợ đen thường có những “đợt sóng” bất thường, khi tỷ giá mua bán của các ngân hàng thương mại biến động.

Mặc dù vậy, do trên thị trường không có sự mất cân đối về cung - cầu USD, đồng thời với việc điều hành kiên quyết của NHNN, và tuyên bố mức điều chỉnh tỷ giá tối đa trong năm 2015 là 2%, tỷ giá USD sẽ ít có khả năng biến động cao, và vì thế, việc đầu cơ USD có lẽ không phải là vấn đề ảnh hưởng lớn đến chính sách tiền tệ trong giai đoạn hiện nay.

PV: Xin bà cho biết tác động của tỷ giá đến lãi suất?

Bà Nguyễn Thị Tuyết Anh: Việc kỳ vọng tỷ giá tăng một mặt kích thích người dân nắm giữ ngoại tệ USD, cầu về USD tăng, mặt khác, khiến cho lãi suất huy động và cho vay cũng tăng theo. Trong thời gian vừa qua, NHNN đã sử dụng một trong những công cụ rất hiệu quả là chênh lệch lãi suất huy động USD và tiền đồng để tránh tình trạng đô la hóa và giữ ổn định lãi suất.

Một số nghiên cứu định lượng cho thấy, nếu tỷ giá VND/USD tăng 1%, lãi suất huy động sẽ tăng khoảng 0,3-0,33 điểm phần trăm, còn lãi suất cho vay tăng khoảng 0,35-0,4 điểm phần trăm. Nếu điều chỉnh tỷ giá 2% mỗi năm, sẽ khiến cho mặt bằng lãi suất tăng thêm khoảng 0,6-0,8 điểm phần trăm.

Tuy nhiên, sự gia tăng của tỷ giá VND/USD không phải là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến với mục tiêu hạ mặt bằng lãi suất huy động và cho vay hiện nay. Vấn đề đầu tư không hiệu quả, thâm hụt ngân sách, nợ công… mới là những yếu tố ảnh hưởng chính, mà Chính phủ, các ngành đang nỗ lực để giải quyết, nhằm hạ lãi suất cho vay, tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển kinh tế

PV: Vậy theo bà, nên điều chỉnh hay không điều chỉnh tỷ giá ?

Bà Nguyễn Thị Tuyết Anh: Có thể thấy NHNN đang nỗ lực thực hiện các biện pháp nhằm theo đuổi mục tiêu tăng tỷ giá trong biên độ không quá 2%/năm. Việc ổn định tỷ giá trong tầm kiểm soát một mặt tạo niềm tin cho người dân vào sức mạnh của chính phủ, mặt khác, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tránh được rủi ro về tỷ giá và hạn chê tình trạng đô la hóa..

Mặc dù mấy năm gần đây, kinh tế nước ta đang trong xu thế phục hồi, nhưng tốc độ tăng chưa cao và tính bền vững chưa được khẳng định. Bên cạnh đó, tốc độ tăng xuất khẩu – đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế đang có nhiều khó khăn, mặc dù tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu vẫn còn rất lớn. Vấn đề hiện nay và trong ngắn hạn và trung hạn là cần có những khuyến khích để khu vực xuất khẩu tăng trưởng mạnh hơn, tận dụng nhu cầu bên ngoài để ngăn chặn sự dư thừa công suất có thể xảy ra trong bối cảnh cầu tiêu dùng và đầu tư trong nước chưa thể tăng mạnh và bền vững do nợ xấu, nợ công và lãi suất thực vẫn ở mức cao.

Chính vì thế, theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng cần cân nhắc chính sách tỷ giá, nhằm mục tiêu trước mắt là phát triển kinh tế, nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia. Vì thế, tỷ giá có thể tăng cao hơn biên độ đã định hướng, do điều kiện thực tế có nhiều thay đổi. Việc tăng tỷ giá có thể thực hiện thông qua việc tăng từ từ tỉ giá liên ngân hàng, hoặc nới rộng biên độ cho phép đối với các ngân hàng thương mại.

Như vậy, tỷ giá liên ngân hàng có thể vẫn giữ đúng biên độ dưới 2%, nhưng tỉ giá trên thị trường có thể cao hơn. Việc tăng tỉ giá cần thiết phải được cân nhắc đến nhiều yếu tố và lựa chọn phương thức và thời điểm thích hợp.

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!

Hồng Sâm

Hồng Sâm

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17975 18249 18831
CAD 18151 18427 19046
CHF 31126 31504 32155
CNY 0 3832 3928
EUR 29361 29582 30662
GBP 34253 34643 35580
HKD 0 3184 3386
JPY 161 164 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14650 15241
SGD 19899 20181 20750
THB 697 760 814
USD (1,2) 25736 0 0
USD (5,10,20) 25775 0 0
USD (50,100) 25803 25817 26184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,400 29,424 30,820
JPY 163.47 163.76 173.66
GBP 34,425 34,518 35,712
AUD 18,169 18,235 18,924
CAD 18,332 18,391 19,072
CHF 31,376 31,474 32,405
SGD 20,019 20,081 20,868
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 745.51 754.72 808.1
NZD 14,628 14,764 15,205
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,943 4,083
NOK - 2,735 2,833
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,954.87 - 6,721.37
TWD 738.48 - 894.7
SAR - 6,804 7,167.1
KWD - 82,423 87,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,795 25,825 26,205
EUR 29,462 29,580 30,778
GBP 34,466 34,604 35,634
HKD 3,249 3,262 3,378
CHF 31,259 31,385 32,319
JPY 164.07 164.73 172.71
AUD 18,197 18,270 18,864
SGD 20,103 20,184 20,777
THB 763 766 802
CAD 18,362 18,436 19,026
NZD 14,729 15,268
KRW 18.37 20.31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18193 18293 19218
CAD 18340 18440 19460
CHF 31373 31403 32993
CNY 3813.4 3838.4 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29549 29579 31301
GBP 34556 34606 36377
HKD 0 3305 0
JPY 164.5 165 175.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14781 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20918
THB 0 726.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30