Công ty tài chính gặp khó với bài toán ‘thu hồi nợ’ mùa giãn cách

H.C

H.C

Doanh nghiệp, người lao động lao đao vì dịch bệnh, ngành tài chính tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng không nhỏ. Lợi nhuận của các công ty tài chính giảm mạnh, đồng thời, nợ xấu do không thu hồi được ngày càng gia tăng.
aa

FE credit

Ảnh T.L minh họa

Kéo dài thời gian giãn cách, thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 8/2021 là 85,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó TP. Hồ Chí Minh có 24.000 doanh nghiệp (chiếm 28,1% tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường), tăng 6,6%.

Còn theo báo cáo của Cục Việc làm (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), trong quý II/2021, cả nước có 12,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị mất việc làm, giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập… Đáng chú ý, sự bùng phát nhanh, mạnh, khó kiểm soát hơn của dịch bệnh lần này đã làm tỷ lệ thiếu việc làm, thất nghiệp của lao động ở khu vực thành thị tăng cao.

Khi người lao động gặp khó, mất thu nhập, ngành tài chính tiêu dùng cũng khó tránh khỏi sự ảnh hưởng. Lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2021 của các công ty tài chính giảm mạnh vì phần lớn khách hàng của họ ở phân khúc thu nhập trung bình thấp, rất nhạy cảm với biến động kinh tế và cũng là đối tượng chịu tác động chính - nặng nề nhất từ đợt dịch covid này: thu nhập giảm sút, mất việc làm, không có thu nhập dự phòng,… khiến cho việc thanh toán khoản vay định kỳ trở nên quá sức đối với khách hàng.

TS Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng cho biết, hiện tại số nợ cơ cấu ước tính theo Thông tư 01/2020 và Thông tư 03/2021 của Ngân hàng Nhà nước là 347.000 tỷ đồng và con số này khả năng sẽ còn lớn hơn nếu tình hình khó khăn kéo dài. Nhiều doanh nghiệp, kể cả những đơn vị sản xuất kinh doanh có hiệu quả trước đây, dù có đơn hàng, có hợp đồng vẫn phải ngừng sản xuất kinh doanh do dịch. Nợ xấu của tổ chức tín dụng vẫn phát sinh và gia tăng trong thời gian tới, dù chủ yếu là nguyên nhân khách quan nhưng hậu quả của đại dịch chắc chắn sẽ rất nặng nề.

Bên cạnh đó, công tác thu hồi nợ cũng trở thành nỗi lo thường trực đối với các công ty tài chính khi tình trạng “đứng cho vay, qùy thu nợ” đang diễn ra ngày càng nhiều. Thậm chí, gần đây, một số cá nhân lợi dụng tính lan truyền của mạng xã hội, tung thông tin không đúng bản chất sự việc khiến cho hình ảnh thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng bị méo mó, xuyên tạc, ảnh hưởng đến ý thức và trách nhiệm trả nợ của người dân. Nhiều hội, nhóm trên mạng xã hội được lập ra với mục đích chia sẻ cách vay tiền của công ty tài chính rồi trốn nợ, bùng nợ.

Đại diện FE CREDIT cho biết: “Đứng trước tình hình kinh tế khó khăn như hiện tại, chúng tôi đã chủ động đề ra nhiều biện pháp ứng phó nhằm bảo toàn năng lực tài chính, nguồn lực lao động, duy trì hoạt động kinh doanh liên tục. Tuy nhiên, với thực tế dịch bệnh đang diễn biến vượt rất xa khỏi dự đoán, cần nhìn nhận rằng nợ xấu khó tránh khỏi nguy cơ sẽ tăng, không chỉ tại các công ty tài chính, mà cả các ngân hàng cho vay tiêu dùng”.

Tìm giải pháp hỗ trợ khách hàng

Dù kết quả kinh doanh bị ảnh hưởng nhưng các công ty tài chính vẫn ra sức hỗ trợ và đồng hành cùng khách hàng. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ và thực hiện Thông tư số 14/2021/TT-NHNN, FE CREDIT đã nhanh chóng triển khai các chương trình miễn giảm lãi và cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhằm giúp khách hàng giảm nhẹ gánh nặng tài chính, sớm có động lực hồi phục sau khó khăn.

Bên cạnh việc xem xét miễn, giảm lãi theo nhóm nợ và hoãn trả nợ trong vòng 4 tháng cho khách hàng, ban lãnh đạo công ty cũng đang thảo luận thêm một số chính sách khác nhằm hỗ trợ khách hàng một cách toàn diện và lâu dài. Hầu hết những khách hàng đang được công ty tập trung hỗ trợ đều thuộc nhóm có thu nhập thấp và trung bình cũng là nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi dịch Covid-19.

Tuy nhiên, công tác hỗ trợ khách hàng của các công ty tài chính cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều khách hàng có chủ đích không trả nợ, nên không tiếp nhận các cuộc gọi của nhân viên xử lý nợ, không thể nắm thông tin về các chương trình hỗ trợ. Thậm chí, một số khách hàng yêu cầu được giãn nợ nhưng sau khi được phê duyệt lại từ chối không nghe điện thoại của nhân viên hỗ trợ. Nhiều khách hàng không muốn tiếp tục trả nợ sau khi hết thời hạn đã được cơ cấu lại, bất chấp việc sẽ bị ảnh hưởng đến khả năng vay vốn trong tương lai.

Theo luật sư Trương Thanh Đức, vì một số yếu tố khách quan hoặc thiếu trách nhiệm khi sử dụng vốn vay dẫn tới việc khách hàng không trả nợ đúng hạn và khi phát sinh nợ xấu thì không ai khác mà chính các công ty tài chính phải gánh rủi ro. Về phía người dân, khi cơ hội tiếp cận với nguồn vốn hợp pháp khép lại thì sẽ thiệt thòi.

Chia sẻ về vấn đề này, đại diện FE CREDIT cũng cho biết trong thời gian này công ty sẽ tập trung hỗ trợ khách hàng trả nợ tuy nhiên vẫn sẽ cố gắng đảm bảo áp dụng một cách an toàn và cẩn trọng. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ sẽ được áp dụng cho các khách hàng gặp khó khăn tài chính, đang bị phong tỏa/cách ly vì dịch Covid-19, đáp ứng đủ các yêu cầu, điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Công ty sẽ liên tục rà soát và phân loại hồ sơ để đảm bảo các khách hàng bị ảnh hưởng do dịch Covid-19 sẽ được hỗ trợ một cách sớm nhất./.

H.C

H.C

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,500
Hà Nội - PNJ 142,400 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,500
Miền Tây - PNJ 142,400 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 14,560
Miếng SJC Nghệ An 14,260 14,560
Miếng SJC Thái Bình 14,260 14,560
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 14,610
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 14,520
Trang sức 99.99 13,930 14,530
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 14,562
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 14,563
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 1,451
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 1,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 142,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 108,236
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 98,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 8,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 84,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 60,246
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cập nhật: 15/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 15/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30