Cuộc đua lãi suất ngày càng tăng nhiệt

Chí Tín
(TBTCO) - FED vừa chính thức công bố đợt tăng lãi suất lần thứ 6, trong khi đó, cuộc đua lãi suất huy động của các ngân hàng trong nước cũng đang nóng lên. Tuy nhiên, các con số lãi suất đôi khi cũng có những điều kiện đi kèm, theo đó người gửi tiền không chỉ nhìn vào mức lãi suất công bố mà cần phải phân tích kỹ hơn các điều kiện kèm theo để tránh bị nhầm lẫn.
aa

Sức nóng lãi suất từ bên ngoài

Đầu tháng 11, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã tiếp tục nâng lãi suất tham chiếu thêm 0,75 điểm phần trăm, lên mức khoảng 3,75-4% và cũng là mức lãi suất cao nhất trong vòng gần 15 năm qua. Với sự tăng lãi suất lần này, FED đã tăng lãi tổng cộng 6 lần, trong đó có 4 lần liên tiếp tăng với mức cao tới 0,75 điểm phần trăm, được đưa ra trong các tháng 6, tháng 7, tháng 9 và tháng 11.

Động thái tăng lãi suất của FED tiếp tục hâm nóng cuộc đua tăng lãi suất toàn cầu đã diễn ra từ đầu năm đến nay. Bởi lẽ khi FED tăng lãi suất làm đồng USD mạnh lên, các ngân hàng trung ương khu vực và của quốc gia trên thế giới đều có xu hướng cũng phải tăng lãi suất theo để giữ giá đồng tiền của họ và kiềm chế lạm phát.

Cụ thể ngay sau khi FED tăng lãi suất, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng đã quyết định tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm, là mức tăng mạnh nhất kể từ 1989. Đây là lần tăng lãi suất thứ 8 liên tiếp của BoE và đã đưa lãi suất cơ bản của Anh đạt 3%.

Lãi suất ngoài thị trường, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đã có xu hướng nhích tăng dần.
Lãi suất ngoài thị trường, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đã có xu hướng nhích tăng dần.

Gần đây nhất vào cuối tháng 10, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng lần thứ 3 tăng lãi suất lên mức cao kỷ lục để chống lạm phát. Theo đó, ECB quyết định tăng lãi suất chủ chốt thêm 0,75 điểm phần trăm lên 2%. Trước đó vào tháng 7/2022, ECB đã có 1 lần tăng lãi suất thêm 0,5 điểm phần trăm ở khu vực Eurozone lần đầu tiên sau 11 năm và tới tháng 9, ECB tiếp tục tăng lãi suất 0,75 điểm phần trăm và là mức tăng cao nhất trong một lần của ngân hàng này. Các nhà kinh tế cho rằng việc tăng lãi suất cao hơn là cần thiết để chống lạm phát hiệu quả. Tuy nhiên, mặt trái của xu hướng này tác động có thể làm sụt giảm sức cầu về hàng hóa và dịch vụ dẫn đến nguy cơ suy thoái kinh tế.

Theo phân tích của Chuyên gia kinh tế, TS. Ngô Trí Long, việc tăng lãi suất là một trong những giải pháp thông thường nhằm kiểm soát lạm phát, nhưng điều này cũng có tác động phụ là làm ảnh hưởng sản xuất do chi phí tài chính tăng. Tuy nhiên, mục tiêu mà các nhà điều hành hướng tới khi lạm phát được kiểm soát nhờ chính sách thắt chặt tiền tệ thì chính điều đó cũng sẽ đem lại lợi ích cho người tiêu dùng về mặt lâu dài.

Cuộc đua lãi suất trong nước

Trong xu thế tăng lãi suất toàn cầu, hoạt động tiền tệ trong nước không thể nằm ngoài xu thế chung. Theo đó, sau một thời gian dài giữ cố định lãi suất điều hành, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cũng đã phải 2 lần điều chỉnh tăng lãi suất điều hành liên tục chỉ trong vòng 1 tháng.

Trong diễn biến lãi suất ngoài thị trường, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đã có xu hướng nhích tăng dần thậm chí từ trước khi NHNN điều chỉnh tăng lãi suất điều hành. Sau đó, cuộc đua lãi suất huy động của các ngân hàng đã hình thành rõ nét hơn sau lần tăng lãi suất điều hành lần 1 (vào cuối tháng 9) và nóng lên rõ rệt hơn sau lần tăng lãi suất điều hành lần 2 (vào cuối tháng 10).

Dự báo tác động của diễn biến tăng lãi suất

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, chuyên gia thuộc Công ty chứng khoán BIDV (BSC) cho biết, lãi suất tăng thường sẽ có tác động bất lợi đối với các kênh đầu tư như chứng khoán và bất động sản. Lý do là mặt bằng lãi suất cao cũng kéo theo dòng tiền vào các kênh đầu tư thu hẹp và có xu hướng chuyển dịch sang các kênh tiền gửi có lợi tức hấp dẫn trong tương quan với rủi ro thấp hơn. Ngoài ra, lãi suất tăng kéo theo chi phí tăng và lợi nhuận doanh nghiệp sụt giảm, giá cả hàng hóa và giá bất động sản theo đó cũng tăng làm giảm nhu cầu tiêu thụ nói chung. Doanh nghiệp vì vậy sẽ hạn chế mở rộng, thậm chí thu hẹp quy mô sản xuất và quy mô các dự án đầu tư. Các hệ quả này sẽ khiến cho định giá doanh nghiệp kém hấp dẫn và triển vọng các thị trường cũng trở lên tiêu cực hơn.

Nhìn vào các mức lãi suất được các ngân hàng công bố, lãi suất huy động cao nhất trên thị trường thậm chí đã lên tới 11%, với sản phẩm Happy Future của Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank). Tiếp đó, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) cũng gây chú với lãi suất cao nhất lên tới 10,5%, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) thì có sản phẩm Prime Saving với lãi suất tới 10,02%...

Tuy vậy, các mức lãi suất được đưa ra nhiều trường hợp nhằm thu hút sự chú ý, nhưng với những điều kiện và điều khoản kèm theo. Do đó, người gửi tiền khi so sánh lãi của suất ngân hàng này với ngân hàng khác cũng cần có sự phân tích kỹ càng các điều kiện để tránh hiểu lầm. Chẳng hạn, sản phẩm Happy Future kỳ hạn 9 tháng của Nam A Bank tuy đưa ra lãi suất lên tới 11%, nhưng chỉ áp dụng cho 3 tháng đầu, 6 tháng còn lại khách hàng chỉ được hưởng lãi suất là 5,95%/năm. Tương tự, sản phẩm Happy Future của VP Bank chỉ áp dụng lãi suất 10,02%/năm cho tháng đầu tiên, tháng sau chỉ còn 8,35%/năm; còn NCB đưa ra điều kiện với khách hàng để được hưởng mức lãi suất 10,5% khá “ngặt nghèo”, đó là khách hàng phải gửi số tiền tối thiểu 500 tỷ đồng. Trong khi đó, một số ngân hàng cũng chào mời khách hàng gửi tiền với những mức lãi suất hấp dẫn, nhưng kèm theo việc phải tham gia mua bảo hiểm nhân thọ.

Chí Tín

Đọc thêm

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

(TBTCO) - Sáng 18/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.254 đồng, tăng 40 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 10, lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,18%, Fed vẫn giữ lập trường "diều hâu", phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao hơn để cân bằng rủi ro.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
NL 99.99 12,880 ▼120K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,830 ▼120K
Trang sức 99.9 13,740 ▼140K 14,440 ▼140K
Trang sức 99.99 13,750 ▼140K 14,450 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1302K 14,602 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1302K 14,603 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,415 ▲1272K 145 ▼1320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,415 ▲1272K 1,451 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,385 ▲1245K 143 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▼1485K 141,584 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼1125K 107,411 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼7986K 974 ▼8868K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼915K 87,389 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼875K 83,527 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼626K 59,787 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Cập nhật: 20/07/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17888 18162 18742
CAD 18215 18491 19110
CHF 31894 32275 32923
CNY 0 3845 3938
EUR 29426 29647 30728
GBP 34603 34995 35944
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15078 15669
SGD 19831 20113 20686
THB 697 760 813
USD (1,2) 26029 0 0
USD (5,10,20) 26070 0 0
USD (50,100) 26099 26113 26478
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,566 29,590 30,999
JPY 157.52 157.8 167.34
GBP 34,763 34,857 36,067
AUD 18,043 18,108 18,789
CAD 18,425 18,484 19,161
CHF 32,178 32,278 33,223
SGD 19,949 20,011 20,796
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,287 3,297 3,434
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 744.78 753.98 807.16
NZD 15,045 15,185 15,638
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,955 4,094
NOK - 2,683 2,777
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.96 - 6,776.76
TWD 733.05 - 887.95
SAR - 6,883.63 7,249.77
KWD - 83,192 88,508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,513 29,632 30,825
GBP 34,752 34,892 35,926
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,997 32,125 33,057
JPY 157.93 158.56 166.48
AUD 18,034 18,106 18,702
SGD 20,019 20,099 20,689
THB 762 765 801
CAD 18,434 18,508 19,090
NZD 15,118 15,663
KRW 16.95 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26480
AUD 18051 18151 19074
CAD 18387 18487 19501
CHF 32131 32161 33743
CNY 3825.7 3850.7 3985.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29603 29633 31358
GBP 34901 34951 36709
HKD 0 3355 0
JPY 158.39 158.89 169.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15177 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19990 20120 20841
THB 0 726.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,118 26,168 26,490
USD20 26,118 26,168 26,490
USD1 26,118 26,168 26,490
AUD 18,067 18,167 19,275
EUR 29,416 29,516 31,172
CAD 18,365 18,465 19,770
SGD 20,056 20,206 20,830
JPY 158.85 160.35 165.9
GBP 34,778 34,928 36,001
XAU 14,388,000 0 14,692,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80