Đề nghị giảm lãi suất, nâng mức cho vay hộ nghèo

Hoàng Yến
Đánh giá chính sách tín dụng hỗ trợ rất hiệu quả cho việc giảm nghèo, các đại biểu Quốc hội đề nghị sớm ban hành chính sách giảm lãi suất, nâng mức cho vay với hộ nghèo.
aa

TTg

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trao đổi cùng các đại biểu trong giờ giải lao của phiên họp ngày 7/6. Ảnh: H.Y

Ngày 7/6, Quốc hội đã dành cả ngày thảo luận về việc thực hiện chính sách pháp luật về giảm nghèo từ năm 2005 – 2012.

5 năm, gần 10 triệu hộ nghèo được vay vốn

Theo báo cáo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), giai đoạn 2005 - 2012, Việt Nam đã bước vào nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình. Thành tựu giảm nghèo được khẳng định qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá và ghi nhận.

Theo báo cáo của Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% năm 2010 xuống 9,6% năm 2012; ở các vùng khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 47% (2006) xuống 28,8% (2010). Giai đoạn 2005 - 2012 tỉ lệ giảm nghèo cả nước đều đạt và vượt chỉ tiêu. Tuy nhiên, tỉ lệ nghèo giữa các vùng, miền vẫn còn khoảng cách khá lớn. Đến năm 2012, các vùng có tỉ lệ nghèo cao là miền núi Tây Bắc, miền núi Đông Bắc và Tây Nguyên; còn 1/5 số tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo trên 20%.

Từ 2005 - 2012, đã có gần 10 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn, giúp cho khoảng 2,4 triệu hộ thoát nghèo, Nhà nước hỗ trợ bù lãi suất 14.727 tỷ đồng. Đến hết năm 2012, có gần 3,263 triệu hộ nghèo có dư nợ bình quân khoảng 16 triệu đồng/hộ, chiếm 53,1% tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH).

Các chính sách tín dụng theo Nghị quyết 30a được thực hiện với hơn 316 nghìn đối tượng, tổng doanh số hơn 4.640 tỷ đồng. Tuy nhiên, tổng nguồn vốn tín dụng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Từ 2010 đến nay, NHCSXH không được cấp bổ sung vốn điều lệ, một số chương trình vốn bổ sung thấp hoặc chưa kịp thời, nguồn vốn của địa phương ủy thác rất thấp. Việc cấp bù lãi suất gia tăng sức ép đối với cân đối ngân sách nhà nước. Hạn mức cho vay tín dụng còn thấp, lãi suất và thời gian cho vay chưa linh hoạt.

Cũng trong giai đoạn này, ngân sách đã dành hơn 38.000 tỷ đồng cho chính sách BHYT người nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.

Về nguồn lực hỗ trợ giảm nghèo, theo báo cáo của Chính phủ, tổng nguồn lực huy động cho mục tiêu giảm nghèo là 864.050 tỷ đồng. Trong đó nguồn NSNN đầu tư cho các chính sách trực tiếp là 167.793 tỷ đồng (19,42% tổng nguồn vốn). Vốn hỗ trợ gián tiếp các chương trình, dự án khoảng 180.539 tỷ đồng; vốn TPCP khoảng 263 nghìn tỷ đồng; vốn ODA liên quan đến người nghèo, vùng nghèo khoảng 33.600 tỷ đồng. Nguồn hỗ trợ của DN là 10.699 tỷ đồng, (1,24% tổng nguồn vốn); Quỹ vì người nghèo 4 cấp huy động được hơn 6.683 tỷ đồng.

Đánh giá mục tiêu đến năm 2020, giảm tỷ lệ nghèo bình quân trong cả nước ít nhất 1,5%/năm, đối với các huyện nghèo giảm 4%/năm là phù hợp và có tính khả thi, UBTVQH đề nghị Chính phủ nghiên cứu tăng thêm nguồn vốn, điều chỉnh lãi suất, mức cho vay hợp lý đối với chương trình hỗ trợ tín dụng. Thúc đẩy thực hiện các chính sách ưu đãi cho DN về đất đai, thuế, hỗ trợ rủi ro… tại các địa bàn nghèo, đông đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiên cứu duy trì một số chính sách giảm nghèo phù hợp đối với các tỉnh, thành phố có chuẩn nghèo cao hơn chuẩn quốc gia, đồng thời tiếp tục duy trì một số chính sách cho hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo để bảo đảm thoát nghèo bền vững.

Đề nghị nâng vốn điều lệ cho Ngân hàng Chính sách xã hội

Thảo luận tại hội trường, nhiều ĐB tán thành và đánh giá cao những thành tựu, chính sách giảm nghèo đã thực hiện. Đồng thời, nêu ra những khó khăn và kiến nghị đối việc với thực hiện chính sách giảm nghèo thời gian tới.

ĐB Võ Kim Cự (Hà Tĩnh) đánh giá hiệu quả nhất trong việc giảm nghèo là chính sách hỗ trợ tín dụng, đặc biệt là những chính sách do NHCSXH thực hiện. Đội ngũ cán bộ của NHCSXH đã rất tâm huyết, làm việc hiệu quả, quản lý vốn tốt. Tỷ lệ vốn quá hạn đảm bảo an toàn ở mức chưa đầy 1%.

Chính vì vậy, ĐB Võ Kim Cự đề nghị sớm tăng vốn điều lệ cho NHCSXH, sau 4 năm chưa tăng. Đồng thời, đề nghị cắt giảm bớt các chương trình mục tiêu quốc gia, tập trung ưu tiên 2 chương trình là giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

ĐB Nguyễn Tiến Sinh (Hoà Bình) nêu lên khó khăn mới của công tác giảm nghèo là tỷ lệ giảm nghèo không đồng đều. Một số nơi, số vùng có tỷ lệ hộ nghèo không giảm mà lại tăng. Những đối tượng nghèo ở các vùng có điều kiện phát triển đã dần thoát nghèo, nhưng người nghèo vùng xa, vùng khó khăn, dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều. ĐB đề nghị có chính sách hỗ trợ, không cắt giảm đầu tư công ở khu vực này, khuyến khích xã hội hoá, đầu tư xã hội.

ĐB Lê Thị Yến (Phú Thọ) cho rằng chuẩn nghèo hiện quá thấp, nên dù người nghèo đã thoát nghèo, cuộc sống vẫn khó khăn. Đề nghị nghiên cứu xây dựng, điều chỉnh lại các tiêu chí về chuẩn nghèo, sửa đổi kịp thời chính sách hỗ trợ hộ nghèo đi xuất khẩu lao động, chính sách đầu tư hạ tầng thương mại ở vùng khó khăn. Đồng thời sớm ban hành quyết định giảm lãi suất cho vay với hộ nghèo, cận nghèo, nâng mức cho vay một số chương trình tín dụng tại NHCSXH.

Đề cập đến những vướng mắc trong thực hiện chính sách giảm nghèo, ĐB Lê Phước Thanh (Quảng Nam) cho biết chính sách hỗ trợ rất nhiều, nhưng văn bản hướng dẫn thực hiện thì thiếu, không cụ thể, khiến mỗi địa phương có những cách triển khai khác nhau. Có những chính sách có đến 14, 18 bộ, cơ quan cùng tham gia, khiến việc triển khai chậm trễ, khó khăn. Trong khi đó, nhiều chính sách hỗ trợ có tính bình quân cào bằng, làm giảm ý chí phấn đấu vươn lên, tinh thần tự lo, tự trọng của một bộ phận người lao động.

Một số ĐB cũng nêu ý kiến việc xoá nghèo còn nghiêng về hỗ trợ trực tiếp, mới chỉ đạt được về mặt chỉ tiêu mà chưa tạo được nền tảng bền vững, tạo sức lan toả. Chính sách giảm nghèo cần đổi mới theo hướng tránh tạo sự ỷ lại, phải giúp người nghèo tự vươn lên.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

(TBTCO) - Ngày 10/6/2026, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 và phát động Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2026. Từ hơn 1.000 tác phẩm dự thi, Ban Giám khảo đã lựa chọn và trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc. Trong đó, Báo Tài chính - Đầu tư ghi dấu ấn với 5 tác phẩm đoạt giải.
Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

(TBTCO) - Igloo - công ty công nghệ bảo hiểm (insurtech) ứng dụng AI toàn diện (AI full stack) tại Đông Nam Á, chuyên phát triển nền tảng vận hành cho ngành bảo hiểm vừa công bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ PT Chubb Indonesia (gọi chung là “Chubb Life”). Theo đó, các giải pháp bảo hiểm của Chubb Life sẽ được cung cấp tại Việt Nam và Indonesia thông qua Ignite by Igloo - nền tảng số phân phối bảo hiểm của Igloo.
Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Chênh lệch giữa tỷ giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đang thu hẹp nhanh chóng sau giai đoạn căng thẳng đầu năm.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 13,830
Kim TT/AVPL 13,430 13,830
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 13,830
Nguyên Liệu 99.99 13,350 13,550
Nguyên Liệu 99.9 13,300 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 13,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 13,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 13,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 138,800
Hà Nội - PNJ 133,800 138,800
Đà Nẵng - PNJ 133,800 138,800
Miền Tây - PNJ 133,800 138,800
Tây Nguyên - PNJ 133,800 138,800
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 138,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 13,830
Miếng SJC Nghệ An 13,330 13,830
Miếng SJC Thái Bình 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 13,830
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 13,830
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 13,020 13,720
Trang sức 99.99 13,030 13,730
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 13,832
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 13,833
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 1,382
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 1,383
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 1,367
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 135,347
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 102,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 93,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 83,545
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 79,854
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 5,716
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 1,383
Cập nhật: 11/06/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/06/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80