Đề xuất "nới" danh mục, nâng hiệu suất đầu tư 120.000 tỷ đồng cho Bảo hiểm tiền gửi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến tháng 9/2024 số tiền đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là 119.072 tỷ đồng, chiếm 97,77% tổng nguồn vốn (121.783 tỷ đồng). Tuy nhiên, kết quả khả năng sinh lời từ hoạt động đầu tư có xu hướng giảm sâu sau hơn 10 năm, vì vậy, đề xuất mở rộng danh mục đầu tư cho bảo hiểm tiền gửi đang được xem xét, thay vì chỉ mua trái phiếu Chính phủ hay gửi tiền tại NHNN như trước đây.
aa
Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 Nâng cao vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam để đồng hành cùng các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - 25 năm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền Nâng cao năng lực tài chính của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam để tham gia có hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang lấy ý kiến đối với hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi).

Hơn 90% người gửi tiền được bảo vệ

Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013. Đây là văn bản pháp lý cao nhất và toàn diện nhất về bảo hiểm tiền gửi, trong đó quy định đầy đủ các nội dung về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, người được bảo hiểm tiền gửi, quy định cụ thể về tiền gửi được bảo hiểm, thời điểm chi trả bảo hiểm...

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, NHNN nhận thấy một số quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, về tổ chức bảo hiểm tiền gửi chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với việc hoàn thiện chế độ, chính sách về bảo hiểm tiền gửi, xây dựng một tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong điều kiện mới và trong quá trình hội nhập.

Đề xuất
Đề xuất "nới" danh mục, nâng hiệu suất đầu tư 120.000 tỷ đồng cho Bảo hiểm tiền gửi. Ảnh tư liệu.

Theo đánh giá của NHNN, quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi đã bảo đảm quyền và lợi ích cho người gửi tiền, tạo niềm tin cho người gửi tiền khi gửi tiền tại tổ chức tín dụng. Hiện nay, theo nguồn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, 100% các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi đều chấp hành quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi.

Đến ngày 31/8/2024, số tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là 1.278 tổ chức, gồm 96 ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 ngân hàng hợp tác xã, 1.177 quỹ tín dụng nhân dân và 4 tổ chức tài chính vi mô.

Hạn mức trả tiền bảo hiểm được rà soát và thay đổi để phù hợp trong từng thời kỳ, từ mức 30 triệu đồng từ năm 1999 và nâng lên mức 125 triệu đồng được áp dụng từ ngày 12/12/2021 đến nay. Với hạn mức trả tiền bảo hiểm này, theo báo cáo của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, tại thời điểm tháng 6/2024 có thể bảo vệ toàn bộ 92,19% số người gửi tiền tại Việt Nam.

Từ khi Luật Bảo hiểm tiền gửi có hiệu lực, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho 1 tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là Quỹ Tín dụng nhân dân Trần Cao, tỉnh Hưng Yên (tháng 11/2013) với 171 người gửi tiền được chi trả tổng số tiền là 4,94 tỷ đồng.

Danh mục đầu tư hạn hẹp, hiệu suất sinh lời giảm

Về quản lý và đầu tư vốn, theo NHNN, từ nguồn vốn ban đầu được cấp là 1.000 tỷ đồng, tính đến cuối ngày 31/12/2023, tổng nguồn vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đạt trên 110 nghìn tỷ đồng. Đến tháng 9/2024, số tiền đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là 119.072 tỷ đồng, chiếm 97,77% tổng nguồn vốn (121.783 tỷ đồng).

Theo quy định Luật Bảo hiểm tiền gửi, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để mua trái phiếu Chính phủ, gửi tiền tại NHNN. Tiền lãi thu được từ hoạt động này được ghi nhận thành hai phần: (i) một phần đưa vào doanh thu để bù đắp chi phí hoạt động hàng năm (Bộ Tài chính phê duyệt giao động từ 17,5 - 22%); (ii) phần còn lại đưa vào Quỹ dự phòng nghiệp vụ (78%).

Quỹ dự phòng nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng tăng theo các năm khi ngày 31/12/2019 là 53.246 tỷ đồng; đến tháng 9/2024 là 114.976 tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo đánh giá của NHNN, việc đầu tư vào trái phiếu Chính phủ trong những năm gần đây gặp khó khăn, lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm thấp. Hơn nữa, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chỉ có một danh mục đầu tư trong điều kiện Kho bạc Nhà nước chỉ tổ chức đấu thầu định kỳ mỗi tuần một lần gây khó khăn cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam về cả cơ hội lựa chọn và thực hiện, đặc biệt khi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi sẵn có lớn vào thời điểm không có phiên thầu.

Đề xuất
Nguồn: NHNN.

Khả năng sinh lời giảm sút

"Kết quả khả năng sinh lời từ hoạt động đầu tư có xu hướng giảm dần từ 9,41% (năm 2013) xuống còn 3,72% (tháng 9/2024) so với mức tỷ lệ bình quân khoảng 7% giai đoạn trước năm 2013. Việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư (ngoài các hình thức đầu tư theo quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012) có thể giúp tăng quy mô của quỹ dự phòng nghiệp vụ, đáp ứng các nhiệm vụ mới được giao tại Luật Các tổ chức tín dụng" - NHNN nêu rõ.

Cũng theo cơ quan soạn thảo, hiện nay, quy định pháp luật đã cho phép Bảo hiểm xã hội Việt Nam, một đơn vị Nhà nước có cơ chế hoạt động tương tự như Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, được sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp để đầu tư vào các danh mục như: mua trái phiếu Chính phủ; (2) cho ngân sách Nhà nước vay; (3) gửi tiền; mua trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại các hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm của NHNN...

Cũng theo thông lệ quốc tế, qua nghiên cứu hoạt động đầu tư của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trên thế giới, một số tổ chức bảo hiểm tiền gửi gồm: Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Đài Loan… đều có thể sử dụng và quản lý nguồn vốn quỹ bảo hiểm tiền gửi để đầu tư như: trái phiếu ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu tổ chức tài chính nước ngoài, gửi tiền tại tổ chức tài chính lành mạnh bên cạnh những hình thức đầu tư cơ bản theo khuyến nghị của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI) là trái phiếu Chính phủ, gửi tiền tại ngân hàng trung ương.

Do đó, NHNN cho rằng cần đa dạng hoá danh mục đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tăng cường năng lực tài chính, tích luỹ nguồn vốn để tham gia tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Điều này nhằm góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Ngoài ra, tại dự thảo này, NHNN cũng đề xuất hoàn thiện quy định về phí bảo hiểm tiền gửi, nâng cao năng lực tài chính, hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến chế độ tài chính của bảo hiểm tiền gửi theo hướng rõ ràng, minh bạch. Ngoài ra, có cơ chế để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính thực hiện các nhiệm vụ được giao; hoàn thiện quy định pháp luật để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tham gia vào quá trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém tại Việt Nam; hoàn thiện quy định về trả tiền bảo hiểm.../.

Đề xuất mở rộng danh mục đầu tư, có thể mua trái phiếu của ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc

Về hoạt động đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, NHNN đề xuất sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng hình thức đầu tư ngoài các hình thức đầu tư theo quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi, để tăng quy mô của Quỹ dự phòng nghiệp vụ.

Đồng thời, bổ sung các quy định để hạn chế rủi ro trong hoạt động đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam như: (i) quy định trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc thực hiện các hoạt động đầu tư, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản đầu tư theo hướng dẫn của Chính phủ; Chính phủ quy định quy trình kiểm soát, quản lý rủi ro, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro; (ii) giao Chính phủ quy định tiêu chí danh mục đầu tư, cơ cấu đầu tư, phương thức đầu tư.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18470 18746 19323
CAD 18679 18957 19570
CHF 33089 33475 34115
CNY 0 3835 3927
EUR 30299 30573 31600
GBP 34801 35194 36134
HKD 0 3232 3434
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15342 15929
SGD 20144 20427 20949
THB 728 791 846
USD (1,2) 26065 0 0
USD (5,10,20) 26106 0 0
USD (50,100) 26135 26154 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26379
AUD 18685 18785 19708
CAD 18876 18976 19992
CHF 33363 33393 34975
CNY 3815.5 3840.5 3975.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30509 30539 32264
GBP 35264 35314 37074
HKD 0 3355 0
JPY 163.53 164.03 174.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15473 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20334 20464 21193
THB 0 758.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80