Đề xuất "nới" danh mục, nâng hiệu suất đầu tư 120.000 tỷ đồng cho Bảo hiểm tiền gửi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến tháng 9/2024 số tiền đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là 119.072 tỷ đồng, chiếm 97,77% tổng nguồn vốn (121.783 tỷ đồng). Tuy nhiên, kết quả khả năng sinh lời từ hoạt động đầu tư có xu hướng giảm sâu sau hơn 10 năm, vì vậy, đề xuất mở rộng danh mục đầu tư cho bảo hiểm tiền gửi đang được xem xét, thay vì chỉ mua trái phiếu Chính phủ hay gửi tiền tại NHNN như trước đây.
aa
Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 Nâng cao vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam để đồng hành cùng các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - 25 năm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền Nâng cao năng lực tài chính của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam để tham gia có hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang lấy ý kiến đối với hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi).

Hơn 90% người gửi tiền được bảo vệ

Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013. Đây là văn bản pháp lý cao nhất và toàn diện nhất về bảo hiểm tiền gửi, trong đó quy định đầy đủ các nội dung về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, người được bảo hiểm tiền gửi, quy định cụ thể về tiền gửi được bảo hiểm, thời điểm chi trả bảo hiểm...

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, NHNN nhận thấy một số quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, về tổ chức bảo hiểm tiền gửi chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối với việc hoàn thiện chế độ, chính sách về bảo hiểm tiền gửi, xây dựng một tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong điều kiện mới và trong quá trình hội nhập.

Đề xuất
Đề xuất "nới" danh mục, nâng hiệu suất đầu tư 120.000 tỷ đồng cho Bảo hiểm tiền gửi. Ảnh tư liệu.

Theo đánh giá của NHNN, quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi đã bảo đảm quyền và lợi ích cho người gửi tiền, tạo niềm tin cho người gửi tiền khi gửi tiền tại tổ chức tín dụng. Hiện nay, theo nguồn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, 100% các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi đều chấp hành quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi.

Đến ngày 31/8/2024, số tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là 1.278 tổ chức, gồm 96 ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 ngân hàng hợp tác xã, 1.177 quỹ tín dụng nhân dân và 4 tổ chức tài chính vi mô.

Hạn mức trả tiền bảo hiểm được rà soát và thay đổi để phù hợp trong từng thời kỳ, từ mức 30 triệu đồng từ năm 1999 và nâng lên mức 125 triệu đồng được áp dụng từ ngày 12/12/2021 đến nay. Với hạn mức trả tiền bảo hiểm này, theo báo cáo của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, tại thời điểm tháng 6/2024 có thể bảo vệ toàn bộ 92,19% số người gửi tiền tại Việt Nam.

Từ khi Luật Bảo hiểm tiền gửi có hiệu lực, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho 1 tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là Quỹ Tín dụng nhân dân Trần Cao, tỉnh Hưng Yên (tháng 11/2013) với 171 người gửi tiền được chi trả tổng số tiền là 4,94 tỷ đồng.

Danh mục đầu tư hạn hẹp, hiệu suất sinh lời giảm

Về quản lý và đầu tư vốn, theo NHNN, từ nguồn vốn ban đầu được cấp là 1.000 tỷ đồng, tính đến cuối ngày 31/12/2023, tổng nguồn vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đạt trên 110 nghìn tỷ đồng. Đến tháng 9/2024, số tiền đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là 119.072 tỷ đồng, chiếm 97,77% tổng nguồn vốn (121.783 tỷ đồng).

Theo quy định Luật Bảo hiểm tiền gửi, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để mua trái phiếu Chính phủ, gửi tiền tại NHNN. Tiền lãi thu được từ hoạt động này được ghi nhận thành hai phần: (i) một phần đưa vào doanh thu để bù đắp chi phí hoạt động hàng năm (Bộ Tài chính phê duyệt giao động từ 17,5 - 22%); (ii) phần còn lại đưa vào Quỹ dự phòng nghiệp vụ (78%).

Quỹ dự phòng nghiệp vụ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng tăng theo các năm khi ngày 31/12/2019 là 53.246 tỷ đồng; đến tháng 9/2024 là 114.976 tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo đánh giá của NHNN, việc đầu tư vào trái phiếu Chính phủ trong những năm gần đây gặp khó khăn, lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm thấp. Hơn nữa, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chỉ có một danh mục đầu tư trong điều kiện Kho bạc Nhà nước chỉ tổ chức đấu thầu định kỳ mỗi tuần một lần gây khó khăn cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam về cả cơ hội lựa chọn và thực hiện, đặc biệt khi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi sẵn có lớn vào thời điểm không có phiên thầu.

Đề xuất
Nguồn: NHNN.

Khả năng sinh lời giảm sút

"Kết quả khả năng sinh lời từ hoạt động đầu tư có xu hướng giảm dần từ 9,41% (năm 2013) xuống còn 3,72% (tháng 9/2024) so với mức tỷ lệ bình quân khoảng 7% giai đoạn trước năm 2013. Việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư (ngoài các hình thức đầu tư theo quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012) có thể giúp tăng quy mô của quỹ dự phòng nghiệp vụ, đáp ứng các nhiệm vụ mới được giao tại Luật Các tổ chức tín dụng" - NHNN nêu rõ.

Cũng theo cơ quan soạn thảo, hiện nay, quy định pháp luật đã cho phép Bảo hiểm xã hội Việt Nam, một đơn vị Nhà nước có cơ chế hoạt động tương tự như Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, được sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp để đầu tư vào các danh mục như: mua trái phiếu Chính phủ; (2) cho ngân sách Nhà nước vay; (3) gửi tiền; mua trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại các hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm của NHNN...

Cũng theo thông lệ quốc tế, qua nghiên cứu hoạt động đầu tư của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi trên thế giới, một số tổ chức bảo hiểm tiền gửi gồm: Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Đài Loan… đều có thể sử dụng và quản lý nguồn vốn quỹ bảo hiểm tiền gửi để đầu tư như: trái phiếu ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu tổ chức tài chính nước ngoài, gửi tiền tại tổ chức tài chính lành mạnh bên cạnh những hình thức đầu tư cơ bản theo khuyến nghị của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI) là trái phiếu Chính phủ, gửi tiền tại ngân hàng trung ương.

Do đó, NHNN cho rằng cần đa dạng hoá danh mục đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tăng cường năng lực tài chính, tích luỹ nguồn vốn để tham gia tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Điều này nhằm góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Ngoài ra, tại dự thảo này, NHNN cũng đề xuất hoàn thiện quy định về phí bảo hiểm tiền gửi, nâng cao năng lực tài chính, hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến chế độ tài chính của bảo hiểm tiền gửi theo hướng rõ ràng, minh bạch. Ngoài ra, có cơ chế để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính thực hiện các nhiệm vụ được giao; hoàn thiện quy định pháp luật để Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tham gia vào quá trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém tại Việt Nam; hoàn thiện quy định về trả tiền bảo hiểm.../.

Đề xuất mở rộng danh mục đầu tư, có thể mua trái phiếu của ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc

Về hoạt động đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, NHNN đề xuất sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng hình thức đầu tư ngoài các hình thức đầu tư theo quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi, để tăng quy mô của Quỹ dự phòng nghiệp vụ.

Đồng thời, bổ sung các quy định để hạn chế rủi ro trong hoạt động đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam như: (i) quy định trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc thực hiện các hoạt động đầu tư, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản đầu tư theo hướng dẫn của Chính phủ; Chính phủ quy định quy trình kiểm soát, quản lý rủi ro, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro; (ii) giao Chính phủ quy định tiêu chí danh mục đầu tư, cơ cấu đầu tư, phương thức đầu tư.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
Bổ sung 15 nhóm dấu hiệu đáng ngờ trong giao dịch tài sản mã hóa

Bổ sung 15 nhóm dấu hiệu đáng ngờ trong giao dịch tài sản mã hóa

(TBTCO) - Ngày 24/8, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Một nội dung mới trong Luật Phòng, chống rửa tiền là bổ sung “dịch vụ tài sản mã hóa” vào nhóm đối tượng báo cáo.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 19:30
Ngân hàng