Từ "lợi thế uy tín" đến khả năng đầu tư: Việt Nam xây dựng Trung tâm tài chính cho nền kinh tế thực

(TBTCO) - “Lợi thế uy tín” của Việt Nam là tài nguyên vô cùng hiếm có và quý giá đối với thu hút đầu tư cho đất nước, trong đó có Trung tâm tài chính quốc tế - biểu hiện rõ ràng về sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam.
aa

Những năm gần đây, hệ thống tài chính Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Nếu như trước đây, hệ thống tài chính Việt Nam còn dễ bị tác động bởi những biến động kinh tế, thì ngày nay, Việt Nam không chỉ lớn mạnh hơn về kinh tế, mà còn thể hiện sự tự tin rõ ràng về định hướng chính trị và khuôn khổ thể chế của riêng mình.

Bài học quan trọng từ quá trình này là vốn không đơn thuần theo sau tăng trưởng. Vốn dựa trên 3 yếu tố cốt lõi: niềm tin, tính dự đoán được và độ tin cậy. Chính những yếu tố này sẽ quyết định tương lai phát triển của Việt Nam. Điều này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh hiện nay với những căng thẳng địa chính trị mới nổi và những xáo trộn kinh tế toàn cầu. Qua năm 2025 và bước sang năm 2026, chúng ta đã thấy rõ khả năng phục hồi kinh tế của Việt Nam trước những cú sốc từ bên ngoài.

Con số tăng trưởng 7,83% của Việt Nam trong quý I/2026 không chỉ là sự phục hồi theo chu kỳ thông thường. Con số này phản ánh những điểm mạnh cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam, nhờ vào các chính sách cải cách nhất quán và ổn định kinh tế vĩ mô. Chính vì thế, Việt Nam đã được các nhà đầu tư nước ngoài công nhận với một “lợi thế uy tín”. Tuy nhiên, thời điểm này cũng đặt ra một yêu cầu cấp bách: chúng ta cần chuyển hóa lợi thế này thành tích lũy vốn bền vững và tái cấu trúc kinh tế dài hạn thực sự, thay vì chỉ dừng lại ở mức ổn định vĩ mô.

Để giải quyết câu hỏi này, phải vượt ra ngoài những con số GDP và đi sâu vào các khía cạnh đa chiều của phân bổ vốn, phát triển thể chế và định vị chiến lược. Để chuyển đổi từ một nền tảng vĩ mô vững chắc sang một nền kinh tế công nghiệp hóa, giá trị cao vào năm 2045, cần có một sự thay đổi cơ bản trong cách Việt Nam khai thác niềm tin đã có được.

Tầng 1: Khuôn khổ thể chế - từ ổn định vĩ mô đến độ tin cậy

Nền tảng cho khuôn khổ thể chế hiện tại của Việt Nam được đặt cách đây 40 năm. Từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới vào năm 1986, Việt Nam đã mở cửa thị trường, thương mại và đầu tư. Giai đoạn phát triển hiện nay - có thể gọi là “Đổi mới 2.0” - thiết lập kiến trúc thể chế, tài chính và vốn nhân lực cho một hệ thống mới, hướng tới năng suất gắn liền với tăng trưởng chất lượng.

Gói chính sách của Việt Nam trong 12 - 18 tháng vừa qua đã nêu rõ những ưu tiên chính. Từ Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 66-NQ/TW về cải cách pháp lý và hành chính, Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Luật Công nghiệp công nghệ kỹ thuật số, cho đến việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng - những IFC này không nên được xem là các dự án độc lập, mà là một phần không thể tách rời của làn sóng cải cách thứ hai này và là biểu hiện rõ ràng về sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam.

Từ
Việt Nam được nhiều nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn là điểm đến đầu tư. Ảnh minh họa.

Ổn định kinh tế vĩ mô tạo nền tảng cho độ tin cậy thể chế cần thiết để tích lũy vốn dài hạn. Các nhà đầu tư đánh giá cao sự ổn định kinh tế vĩ mô, vì sự ổn định giúp giảm bớt rủi ro tiếp xúc với những biến động ngắn hạn như biến động tỷ giá hay lạm phát. Tuy nhiên, vốn dài hạn - loại vốn cần thiết cho các khoản đầu tư hạ tầng, chuyển đổi xanh và sản xuất công nghệ sâu - lại đòi hỏi một loại niềm tin khác. Vốn dài hạn cần sự đảm bảo rằng, các quy tắc sẽ tiếp tục được áp dụng nhất quán, quyền sở hữu sẽ được tôn trọng và các tranh chấp sẽ được giải quyết công bằng, công khai trong suốt nhiều năm.

Việt Nam đang hưởng “lợi thế uy tín” với điểm tựa quan trọng là các chính sách tài khóa - tiền tệ có trách nhiệm. Tuy nhiên, khuôn khổ thể chế phải phát triển thêm nếu muốn lợi thế này được nâng cấp. Nói cách khác, khuôn khổ cần chuyển đổi từ một hệ thống quản lý rủi ro thành một hệ thống hỗ trợ thực hiện các giao dịch tài chính phức tạp.

“Ngoại giao cây tre” đã trở thành dấu ấn đặc trưng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Cách tiếp cận này thu hút sự quan tâm quốc tế và góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Ví dụ, IFC tại TP. Hồ Chí Minh cần thiết lập một cấu trúc thể chế phù hợp với điều kiện riêng - có thể là một mô hình kết hợp các yếu tố của luật chung quốc tế cho những lĩnh vực tài chính nhất định - chẳng hạn như Trung tâm tài chính quốc tế Dubai (DIFC) hay Thị trường toàn cầu Abu Dhabi (ADGM). Cấu trúc này sẽ đảm bảo sự chắc chắn pháp lý đủ để các nhà đầu tư thể chế toàn cầu có thể chuyển đổi lợi thế thụ động thành khả năng đầu tư chủ động.

Điều đặc biệt quan trọng là IFC không nên đơn giản sao chép những mô hình khác. TP. Hồ Chí Minh không có ý định trở thành “Singapore tiếp theo”, mà là trung tâm tài chính đầu tiên được thiết kế cho thời đại của trí tuệ nhân tạo (AI), tài sản kỹ thuật số và nâng cao năng suất.

Đồng thời, tăng cường hạ tầng quản lý rủi ro là rất quan trọng. Hệ thống tài chính của Việt Nam cần phát triển thêm hệ sinh thái xếp hạng tín dụng trong nước và các cơ chế định giá rủi ro. Nếu không có các khuôn khổ đánh giá rủi ro đáng tin cậy và được chấp nhận rộng rãi, các nhà đầu tư sẽ thận trọng khi cam kết vốn dài hạn. Từ góc độ tài chính, minh bạch rủi ro không nên được xem là một gánh nặng quy định, mà là một điều kiện tiên quyết cơ bản để huy động vốn đầu tư dài hạn ở quy mô lớn. Các tiêu chuẩn xếp hạng đáng tin cậy, thực tiễn công bố thông tin và tính sẵn có của dữ liệu trở thành những yếu tố cốt lõi của một trung tâm tài chính đáng tin cậy.

Tầng 2: Cơ chế thị trường - kết nối vốn với năng suất

Tầng thứ hai liên quan đến những cơ chế mà vốn chảy vào nền kinh tế thực. Một trong những “cái bẫy” của các thị trường tài chính mới là sự tách rời những đổi mới trong thị trường tài chính khỏi nền kinh tế thực, dẫn đến bong bóng giá tài sản thay vì tăng năng suất.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 10% mỗi năm của Việt Nam sẽ cần hàng chục tỷ USD hàng năm cho tài chính đầu tư dài hạn. Các tổ chức tín dụng thông thường không thể đảm đương toàn bộ nhiệm vụ này. Do đó, “lợi thế uy tín” phải được chuyển đổi thành những hình thức tổ chức thị trường sáng tạo - cụ thể là Tài chính chuỗi cung ứng 2.0.

Đây chính là lúc khái niệm năng lực hấp thụ vốn trở nên đặc biệt quan trọng. Thách thức của Việt Nam không còn chỉ là thu hút vốn. Điều quan trọng hơn nhiều là xác định cách nguồn vốn này có thể được triển khai hiệu quả nhất để thực sự tạo ra giá trị kinh tế. Năng lực hấp thụ vốn cho phép các dòng chảy tài chính được chuyển hướng vào những lợi ích năng suất, chuyển giao công nghệ, tạo việc làm có kỹ năng và tạo ra giá trị nội địa bền vững.

Sự phân biệt này rất quan trọng: vốn lưu thông chủ yếu trong các thị trường tài chính không chủ yếu tạo ra giá trị, mà có thể có tác dụng phụ không mong muốn là lạm phát giá tài sản và bong bóng đầu tư. Một IFC thành công trong việc thu hút lượng vốn lớn nhưng lại không thành công trong việc chuyển hướng những quỹ này vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) cũng như nâng cấp công nghiệp, cuối cùng sẽ trở thành một nền tảng cho các giao dịch tài chính bong bóng hơn là một động lực của sự phát triển dài hạn.

Mục tiêu chiến lược của Việt Nam do đó phải rõ ràng: thiết kế những cơ chế tài chính liên kết có hệ thống phân bổ vốn với nâng cấp năng suất. Trong bối cảnh này, những cơ chế như Tài chính chuỗi cung ứng 2.0 có thể đóng một vai trò chuyển đổi mạnh mẽ. Những cơ chế này kết hợp sản xuất, tài liệu kỹ thuật số và các công cụ tài chính thành một hệ thống tích hợp, giúp cải thiện hiệu quả phân bổ vốn.

Việt Nam có hệ thống khu công nghiệp phát triển và phục vụ như một trung tâm chính cho sản xuất điện thoại di động, bán dẫn. Bằng cách tận dụng những công nghệ tiên tiến như hệ thống xếp hạng tín dụng dựa trên AI và token hóa các tài sản hữu hình (hóa đơn, tồn kho, tín chỉ carbon), được hỗ trợ bởi các khuôn khổ sandbox, bảo vệ nhà đầu tư mạnh mẽ, các tiêu chuẩn chống rửa tiền hiệu quả, dữ liệu được kiểm toán và các cấu trúc quyền sở hữu tài sản được xác định rõ ràng, Việt Nam có thể tạo ra tính thanh khoản bổ sung đáng kể cho các SME - xương sống của nền kinh tế.

Làm được điều đó, lợi thế sẽ được chuyển đổi và nâng cấp. Ví dụ, một nhà sản xuất nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể nhận được tài chính toàn cầu thông qua thông tin chuỗi cung ứng được xác minh và token hóa, thay vì phải chờ đợi thực hiện những thủ tục thế chấp truyền thống. Những cơ chế này cho phép liên kết trực tiếp giữa tích lũy vốn và cải thiện năng suất, chuyển giao công nghệ và tạo ra giá trị gia tăng địa phương, từ đó thay đổi mô hình tăng trưởng từ sự phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sang tính cạnh tranh công nghiệp tự duy trì.

Tầng 3: Định vị chiến lược - lợi thế địa chính trị

Định vị chiến lược đại diện cho tầng thứ ba. Trong bối cảnh địa chính trị phân mảnh ngày nay, chính sách “ngoại giao cây tre” của Việt Nam đã đặt đất nước ở trung tâm của tính trung lập được chấp nhận toàn cầu và độ tin cậy trong chuỗi cung ứng. Đây là khía cạnh địa chính trị của “lợi thế uy tín”.

Tuy nhiên, để thực hiện nâng cấp kinh tế thực sự, Việt Nam phải tận dụng vị trí chiến lược này để thu hút không chỉ các nhà máy lắp ráp, mà còn các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), các cơ sở lưu trữ dữ liệu, cũng như các dịch vụ tài chính giá trị cao. Lợi thế “Trung Quốc+1” đang chuyển đổi thành nhu cầu về “Khả năng phục hồi+1”. Các nhà đầu tư đang tìm kiếm những địa điểm cung cấp cả giá cạnh tranh lẫn khả năng phục hồi của hệ thống để ứng phó với những sự kiện gián đoạn toàn cầu.

Do đó, chuyển đổi lợi thế này có nghĩa là phát triển những chính sách tùy chỉnh, ví dụ: cung cấp giấy phép làm việc 10 năm cho các chuyên gia AI/Deep Tech; thiết lập các thỏa thuận hợp tác để phát triển năng lượng hạt nhân và tái tạo, cung cấp năng lượng cho các trung tâm dữ liệu; tạo ra các môi trường sandbox, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các giải pháp công nghệ tài chính (fintech)... Và cuối cùng, Việt Nam không chỉ là một nơi “trú ẩn an toàn”, mà còn là một trung tâm tích cực tham gia các chuyển đổi xanh và kỹ thuật số.

Đồng thời, việc xây dựng một IFC không chỉ bao gồm vấn đề về hạ tầng, giấy phép hay các chiến lược định vị, mà còn cần đến vốn nhân lực. Nhân lực cho các trung tâm tài chính cần những người có khả năng hoạt động thành công trong môi trường ngày càng phức tạp và toàn cầu hóa: các nhà quản lý rủi ro, nhà phân tích, chuyên gia tuân thủ, nhà tài chính, kỹ sư, kế toán, quản lý quỹ, luật sư và những người điều tiết.

Đối với Việt Nam, điều này có nghĩa là tăng cường giáo dục tài chính và phát triển kỹ năng phải trở thành một ưu tiên chính. Theo đó, cần đào tạo theo định hướng thực tiễn, đào tạo nghề kép, liên kết mạnh mẽ hơn giữa các trường đại học và các ngành công nghiệp, tích hợp các kỹ năng liên quan đến AI vào chương trình giáo dục...

Hành động ngay bây giờ

“Lợi thế uy tín” của Việt Nam là tài nguyên vô cùng hiếm có và quý giá, cần được khai thác đúng cách để phát huy tối đa hiệu quả. Sự tiến triển từ ổn định kinh tế vĩ mô đến đầu tư vốn dài hạn và phát triển kinh tế dài hạn không phải là tự động, mà phụ thuộc vào một loạt sáng kiến chính sách cụ thể, đa tầng, như: xây dựng niềm tin vào các cấu trúc thể chế, phát triển Tài chính chuỗi cung ứng 2.0 (để kết nối các nguồn tài chính với lĩnh vực sản xuất) và sử dụng tính trung lập địa chính trị của đất nước để theo đuổi các khoản đầu tư giá trị cao.

Câu hỏi quan trọng không phải là liệu Việt Nam có thể thu hút vốn hay không, mà là cách Việt Nam có thể chuyển đổi vốn thành năng suất, tăng trưởng chất lượng cao và triển khai một cách minh bạch, hiệu quả. Điều này đòi hỏi các quy định đáng tin cậy, quản lý rủi ro, định giá minh bạch, xếp hạng tín dụng đáng tin cậy, cơ sở hạ tầng, các chuyên gia tài chính có kỹ năng và các kênh thoái vốn rõ ràng cho các nhà đầu tư. Trong bối cảnh này, IFC tại TP. Hồ Chí Minh không nên được xem là một dự án danh nghĩa, mà là một nền tảng năng suất cho giai đoạn phát triển tiếp theo của kinh tế Việt Nam.

Nếu Việt Nam thành công trong việc điều hướng những thay đổi cần thiết, đất nước sẽ không chỉ đạt được các mục tiêu tăng trưởng dài hạn. Việt Nam hướng tới trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Nền tảng đã tồn tại, đã đến lúc xây dựng cấu trúc./.

(*) Đại học Khoa học ứng dụng FOM, Đức

(**) Đại học Hoa Sen, TP. Hồ Chí Minh

GS.TS Andreas Stoffers và Nguyễn Phương Quỳnh (**)

Đọc thêm

Không có cá nhân, tổ chức tham gia đấu giá quyền sử dụng đất tại sân vận động Chi Lăng, Đà Nẵng

Không có cá nhân, tổ chức tham gia đấu giá quyền sử dụng đất tại sân vận động Chi Lăng, Đà Nẵng

(TBTCO) - Sau một tháng thông báo và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất sân vận động Chi Lăng, phường Hòa Cường, TP. Đà Nẵng theo hình thức trực tuyến, không có cá nhân, tổ chức nào tham gia đấu giá.
Quy hoạch, đầu tư cảng hàng không cần tính toán kỹ lưỡng về hiệu quả tài chính, kinh tế - xã hội

Quy hoạch, đầu tư cảng hàng không cần tính toán kỹ lưỡng về hiệu quả tài chính, kinh tế - xã hội

(TBTCO) - Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 241/TB-VPCP ngày 11/5/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại cuộc họp về điều chỉnh quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Hoàn thành phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trước 20/5/2026

Hoàn thành phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trước 20/5/2026

(TBTCO) - Thủ tướng chỉ đạo các bộ khẩn trương triển khai, hướng dẫn thi hành các nghị quyết đã được Chính phủ ban hành về việc phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, hoàn thành trước ngày 20/5/2026.
Hà Nội thông qua nghị quyết quan trọng để triển khai Luật Thủ đô

Hà Nội thông qua nghị quyết quan trọng để triển khai Luật Thủ đô

(TBTCO) - Sáng 11/5, tại Kỳ họp thứ hai, HĐND TP. Hà Nội khóa XVI đã chính thức thông qua Nghị quyết quy định một số nội dung về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm tổ chức thi hành Luật Thủ đô.
Dự kiến khởi công Khu công nghiệp VSIP Huế vào quý IV/2026

Dự kiến khởi công Khu công nghiệp VSIP Huế vào quý IV/2026

(TBTCO) - Chủ đầu tư dự án Khu công nghiệp VSIP Huế đang phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tiến hành thủ tục giải phóng mặt bằng dự án theo các mốc tiến độ cụ thể, hướng đến khởi công khu công nghiệp này vào quý IV/2026.
Kỳ họp thứ hai của HĐND TP. Hà Nội: Sẽ bầu bổ sung 2 Phó chủ tịch UBND Thành phố

Kỳ họp thứ hai của HĐND TP. Hà Nội: Sẽ bầu bổ sung 2 Phó chủ tịch UBND Thành phố

(TBTCO) - Sáng 11/5, kỳ họp thứ hai của HĐND TP. Hà Nội khóa 17, nhiệm kỳ 2026 - 2031 xem xét, quyết định nhiều nội dung đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới, trong đó thông qua 15 nội dung quan trọng, tập trung vào 3 nhóm vấn đề lớn.
Quảng Ninh tăng tốc kết nối cung - cầu lao động, gỡ “nút thắt” nhân lực cho doanh nghiệp

Quảng Ninh tăng tốc kết nối cung - cầu lao động, gỡ “nút thắt” nhân lực cho doanh nghiệp

(TBTCO) - Nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp tại Quảng Ninh đang tăng mạnh, nhất là trong bối cảnh tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất, phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp và đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026.
Gia Lai đôn đốc loạt dự án ngoài ngân sách khởi công trong năm 2026

Gia Lai đôn đốc loạt dự án ngoài ngân sách khởi công trong năm 2026

(TBTCO) - Gia Lai đang thúc tiến độ chuẩn bị khởi công hàng loạt dự án đầu tư ngoài ngân sách trong các tháng 5, 6 và 7/2026, trải rộng từ khu đô thị, hạ tầng công nghiệp, năng lượng đến nông nghiệp công nghệ cao và du lịch nghỉ dưỡng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều