Cải cách thể chế thực chất, củng cố nền tảng vĩ mô

Thu Hương
(TBTCO) - Trong bối cảnh lợi suất quốc tế cao và rủi ro địa chính trị gia tăng, năm 2026 đòi hỏi Việt Nam cân bằng chặt chẽ giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Dù nền tảng tài khóa và dòng vốn FDI tạo thêm dư địa chính sách, mục tiêu tăng trưởng cao vẫn cần cải cách sâu hơn và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
aa

Từ ổn định vĩ mô đến bài toán tăng trưởng cao

Bức tranh kinh tế thế giới những tháng đầu năm tiếp tục đan xen nhiều yếu tố khó lường. Theo ông Gene Fang - Phó Giám đốc điều hành Moody’s Ratings, mặt bằng lợi suất tại Mỹ vẫn ở mức tương đối cao, tạo áp lực lên chi phí vốn toàn cầu và định hướng chính sách của các nền kinh tế mới nổi. Trung Quốc tiếp tục đối diện áp lực giảm phát và tiêu dùng suy yếu, trong khi Nhật Bản triển khai lộ trình bình thường hóa chính sách tiền tệ một cách thận trọng. Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông cũng khiến thị trường tài chính có thời điểm biến động mạnh, làm gia tăng tâm lý phòng vệ rủi ro.

Cải cách thể chế thực chất, củng cố nền tảng vĩ mô
Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm sáng tương đối ổn định trong khu vực. Ảnh: Đức Thanh

Trong môi trường nhiều biến số đó, Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm sáng tương đối ổn định trong khu vực. Moody’s Ratings hiện xếp hạng Việt Nam ở mức Ba2 với triển vọng ổn định, phản ánh nền tảng tài khóa và cán cân thanh toán đã cải thiện đáng kể. Nợ công được kiểm soát trong ngưỡng an toàn; cơ cấu nợ chuyển dịch theo hướng kéo dài kỳ hạn và tăng tỷ trọng vay trong nước, góp phần giảm rủi ro thanh khoản và tỷ giá. Thặng dư thương mại cùng dòng vốn đầu tư ổn định tiếp tục củng cố cán cân thanh toán, tạo lớp đệm quan trọng trước các cú sốc bên ngoài.

Tuy nhiên, ổn định vĩ mô mới là điều kiện cần. TS. Hoàng Văn Cường nhận định mục tiêu tăng trưởng 10% là rất thách thức khi năm 2025 đã đạt khoảng 8%, tạo nền so sánh cao. Động lực xuất khẩu năm 2025 tăng khoảng 16%, song khả năng duy trì mức tăng này trong năm 2026 không lớn, trong khi các động lực mới chưa thể hiện rõ nét. Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng theo mô hình cũ đang dần thu hẹp, buộc nền kinh tế phải chuyển sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất và đổi mới sáng tạo.

Nguồn lực đầu tư quyết định quỹ đạo tăng trưởng

TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng trong ba yếu tố tăng trưởng, đầu tư vẫn giữ vai trò then chốt với Việt Nam, trong khi đóng góp của khoa học công nghệ còn hạn chế. Để đạt tăng trưởng hai con số, tỷ lệ đầu tư toàn xã hội cần vượt xa mức hơn 33% GDP hiện nay. Ông nhấn mạnh mở rộng FDI, huy động vốn cho năng lượng, phát triển khu thương mại tự do và cải cách thể chế để khơi thông, phân bổ hiệu quả nguồn lực.

Ở góc độ mô hình phát triển, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, tăng trưởng cần chuyển từ mở rộng về lượng sang nâng cao chất lượng, theo hướng bao trùm và bền vững hơn. Ông nhấn mạnh mô hình “3I” do Ngân hàng Thế giới khuyến nghị gồm đầu tư (Investment), tiếp nhận - hấp thụ công nghệ (Integration) và đổi mới sáng tạo (Innovation) cần được triển khai đồng thời. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tại các nền kinh tế tăng trưởng cao, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) thường đóng góp tỷ trọng lớn trong tăng trưởng. Với Việt Nam, mục tiêu nâng tỷ trọng TFP lên trên 50% trong nhiệm kỳ tới là tham vọng đáng kể trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chậm lại.

Dù dư địa của mô hình cũ thu hẹp, một số động lực nội tại vẫn đang cải thiện. Thu nhập người lao động phục hồi, thị trường lao động củng cố, tổng hình thành vốn cố định duy trì xu hướng gia tăng. Ông Gene Fang nhận định việc gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị chủ yếu gắn với mở rộng công suất và nâng cấp chuỗi giá trị, phản ánh niềm tin vào triển vọng sản xuất. Tuy nhiên, để những tín hiệu này chuyển hóa thành tăng trưởng bền vững, hiệu quả phân bổ nguồn lực và chất lượng dòng vốn vẫn là yếu tố quyết định.

Đa dạng hóa nguồn lực và cải cách thể chế

Trong cấu trúc tăng trưởng hiện nay, đầu tư tiếp tục giữ vai trò then chốt. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, trong ba yếu tố quyết định tăng trưởng là lao động, đầu tư và khoa học công nghệ, thì đầu tư vẫn là động lực quan trọng nhất đối với Việt Nam, trong khi đóng góp của khoa học công nghệ còn hạn chế. Với nhu cầu đầu tư hạ tầng và năng lượng quy mô lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn lực trong nước sẽ khó đáp ứng. Vì vậy, huy động hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI, là lựa chọn tất yếu nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao.

Tuy nhiên, mở rộng quy mô đầu tư phải đi cùng nâng cao chất lượng và khả năng hấp thụ công nghệ. Việc phát triển các khu thương mại tự do nhằm thu hút đầu tư và thúc đẩy chuyển giao khoa học - công nghệ cần được thiết kế theo hướng gắn với nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, cần xem xét cơ chế phù hợp cho phép doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận vốn nước ngoài một cách minh bạch và an toàn, tránh bỏ lỡ nguồn lực quan trọng trong bối cảnh vốn trong nước còn hạn chế.

Khơi thông động lực tăng trưởng nội địa

Các chuyên gia nhấn mạnh cần kích cầu tiêu dùng nội địa để củng cố một trong ba động lực tăng trưởng. TS. Trần Đình Thiên cho rằng sức mua yếu khiến doanh nghiệp trong nước khó phục hồi. TS. Võ Trí Thành lưu ý tăng trưởng vẫn phụ thuộc tín dụng, tái cấu trúc và mô hình kinh tế mới còn hạn chế. Việc củng cố niềm tin, quản trị rủi ro và theo sát biến động quốc tế được xem là yếu tố then chốt.

Việc huy động và phân bổ nguồn lực sẽ khó đạt hiệu quả nếu không đi kèm cải cách thể chế. TS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trừ các lĩnh vực đặc thù như an ninh - quốc phòng và sức khỏe cộng đồng. Khi môi trường kinh doanh minh bạch hơn và doanh nghiệp được trao quyền chủ động nhiều hơn, chi phí tuân thủ sẽ giảm và hiệu quả đầu tư được cải thiện. Ông cũng đề xuất đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP) không chỉ trong hạ tầng mà cả trong quản lý và nghiên cứu - phát triển, qua đó khai thác tốt hơn nguồn lực xã hội.

Ở góc độ điều hành, TS. Cấn Văn Lực lưu ý mục tiêu tăng trưởng cao phải luôn đi kèm yêu cầu giữ vững ổn định vĩ mô. Muốn đạt tăng trưởng 9 - 10%, cần tính toán cụ thể nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội và phương thức huy động phù hợp. Cơ cấu vốn hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, do đó đa dạng hóa nguồn vốn, đặc biệt phát triển mạnh thị trường chứng khoán và các kênh vốn trung, dài hạn là điều kiện cần để giảm rủi ro hệ thống.

Bên cạnh các yếu tố về vốn và thể chế, niềm tin của khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng đối với động lực tăng trưởng. Việc hướng dẫn rõ ràng áp dụng chính sách thuế, không hồi tố và tăng hỗ trợ kỹ thuật sẽ góp phần giảm tâm lý lo ngại của hộ kinh doanh và doanh nghiệp. Khi niềm tin được củng cố, dòng vốn và tiêu dùng sẽ vận hành thông suốt hơn, qua đó hỗ trợ tăng trưởng.

Tựu trung, năm 2026 đặt ra bài toán cân bằng giữa quyết tâm tăng trưởng cao và yêu cầu ổn định vĩ mô. Việt Nam đang có lợi thế về nền tảng tài khóa được củng cố, cán cân thanh toán tích cực và dòng vốn FDI duy trì ổn định. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tham vọng, trọng tâm chính sách cần chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua cải cách thể chế thực chất, đa dạng hóa nguồn lực và tăng năng suất lao động. Ổn định vĩ mô vì thế không phải điểm dừng, mà là nền tảng để theo đuổi tăng trưởng cao một cách bền vững trong trung hạn.

Thu Hương

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80