Cải cách thể chế thực chất, củng cố nền tảng vĩ mô

Thu Hương
(TBTCO) - Trong bối cảnh lợi suất quốc tế cao và rủi ro địa chính trị gia tăng, năm 2026 đòi hỏi Việt Nam cân bằng chặt chẽ giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Dù nền tảng tài khóa và dòng vốn FDI tạo thêm dư địa chính sách, mục tiêu tăng trưởng cao vẫn cần cải cách sâu hơn và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
aa

Từ ổn định vĩ mô đến bài toán tăng trưởng cao

Bức tranh kinh tế thế giới những tháng đầu năm tiếp tục đan xen nhiều yếu tố khó lường. Theo ông Gene Fang - Phó Giám đốc điều hành Moody’s Ratings, mặt bằng lợi suất tại Mỹ vẫn ở mức tương đối cao, tạo áp lực lên chi phí vốn toàn cầu và định hướng chính sách của các nền kinh tế mới nổi. Trung Quốc tiếp tục đối diện áp lực giảm phát và tiêu dùng suy yếu, trong khi Nhật Bản triển khai lộ trình bình thường hóa chính sách tiền tệ một cách thận trọng. Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông cũng khiến thị trường tài chính có thời điểm biến động mạnh, làm gia tăng tâm lý phòng vệ rủi ro.

Cải cách thể chế thực chất, củng cố nền tảng vĩ mô
Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm sáng tương đối ổn định trong khu vực. Ảnh: Đức Thanh

Trong môi trường nhiều biến số đó, Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm sáng tương đối ổn định trong khu vực. Moody’s Ratings hiện xếp hạng Việt Nam ở mức Ba2 với triển vọng ổn định, phản ánh nền tảng tài khóa và cán cân thanh toán đã cải thiện đáng kể. Nợ công được kiểm soát trong ngưỡng an toàn; cơ cấu nợ chuyển dịch theo hướng kéo dài kỳ hạn và tăng tỷ trọng vay trong nước, góp phần giảm rủi ro thanh khoản và tỷ giá. Thặng dư thương mại cùng dòng vốn đầu tư ổn định tiếp tục củng cố cán cân thanh toán, tạo lớp đệm quan trọng trước các cú sốc bên ngoài.

Tuy nhiên, ổn định vĩ mô mới là điều kiện cần. TS. Hoàng Văn Cường nhận định mục tiêu tăng trưởng 10% là rất thách thức khi năm 2025 đã đạt khoảng 8%, tạo nền so sánh cao. Động lực xuất khẩu năm 2025 tăng khoảng 16%, song khả năng duy trì mức tăng này trong năm 2026 không lớn, trong khi các động lực mới chưa thể hiện rõ nét. Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng theo mô hình cũ đang dần thu hẹp, buộc nền kinh tế phải chuyển sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất và đổi mới sáng tạo.

Nguồn lực đầu tư quyết định quỹ đạo tăng trưởng

TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng trong ba yếu tố tăng trưởng, đầu tư vẫn giữ vai trò then chốt với Việt Nam, trong khi đóng góp của khoa học công nghệ còn hạn chế. Để đạt tăng trưởng hai con số, tỷ lệ đầu tư toàn xã hội cần vượt xa mức hơn 33% GDP hiện nay. Ông nhấn mạnh mở rộng FDI, huy động vốn cho năng lượng, phát triển khu thương mại tự do và cải cách thể chế để khơi thông, phân bổ hiệu quả nguồn lực.

Ở góc độ mô hình phát triển, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, tăng trưởng cần chuyển từ mở rộng về lượng sang nâng cao chất lượng, theo hướng bao trùm và bền vững hơn. Ông nhấn mạnh mô hình “3I” do Ngân hàng Thế giới khuyến nghị gồm đầu tư (Investment), tiếp nhận - hấp thụ công nghệ (Integration) và đổi mới sáng tạo (Innovation) cần được triển khai đồng thời. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tại các nền kinh tế tăng trưởng cao, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) thường đóng góp tỷ trọng lớn trong tăng trưởng. Với Việt Nam, mục tiêu nâng tỷ trọng TFP lên trên 50% trong nhiệm kỳ tới là tham vọng đáng kể trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chậm lại.

Dù dư địa của mô hình cũ thu hẹp, một số động lực nội tại vẫn đang cải thiện. Thu nhập người lao động phục hồi, thị trường lao động củng cố, tổng hình thành vốn cố định duy trì xu hướng gia tăng. Ông Gene Fang nhận định việc gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị chủ yếu gắn với mở rộng công suất và nâng cấp chuỗi giá trị, phản ánh niềm tin vào triển vọng sản xuất. Tuy nhiên, để những tín hiệu này chuyển hóa thành tăng trưởng bền vững, hiệu quả phân bổ nguồn lực và chất lượng dòng vốn vẫn là yếu tố quyết định.

Đa dạng hóa nguồn lực và cải cách thể chế

Trong cấu trúc tăng trưởng hiện nay, đầu tư tiếp tục giữ vai trò then chốt. Theo TS. Lê Xuân Nghĩa, trong ba yếu tố quyết định tăng trưởng là lao động, đầu tư và khoa học công nghệ, thì đầu tư vẫn là động lực quan trọng nhất đối với Việt Nam, trong khi đóng góp của khoa học công nghệ còn hạn chế. Với nhu cầu đầu tư hạ tầng và năng lượng quy mô lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn lực trong nước sẽ khó đáp ứng. Vì vậy, huy động hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI, là lựa chọn tất yếu nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao.

Tuy nhiên, mở rộng quy mô đầu tư phải đi cùng nâng cao chất lượng và khả năng hấp thụ công nghệ. Việc phát triển các khu thương mại tự do nhằm thu hút đầu tư và thúc đẩy chuyển giao khoa học - công nghệ cần được thiết kế theo hướng gắn với nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, cần xem xét cơ chế phù hợp cho phép doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận vốn nước ngoài một cách minh bạch và an toàn, tránh bỏ lỡ nguồn lực quan trọng trong bối cảnh vốn trong nước còn hạn chế.

Khơi thông động lực tăng trưởng nội địa

Các chuyên gia nhấn mạnh cần kích cầu tiêu dùng nội địa để củng cố một trong ba động lực tăng trưởng. TS. Trần Đình Thiên cho rằng sức mua yếu khiến doanh nghiệp trong nước khó phục hồi. TS. Võ Trí Thành lưu ý tăng trưởng vẫn phụ thuộc tín dụng, tái cấu trúc và mô hình kinh tế mới còn hạn chế. Việc củng cố niềm tin, quản trị rủi ro và theo sát biến động quốc tế được xem là yếu tố then chốt.

Việc huy động và phân bổ nguồn lực sẽ khó đạt hiệu quả nếu không đi kèm cải cách thể chế. TS. Hoàng Văn Cường nhấn mạnh cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trừ các lĩnh vực đặc thù như an ninh - quốc phòng và sức khỏe cộng đồng. Khi môi trường kinh doanh minh bạch hơn và doanh nghiệp được trao quyền chủ động nhiều hơn, chi phí tuân thủ sẽ giảm và hiệu quả đầu tư được cải thiện. Ông cũng đề xuất đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP) không chỉ trong hạ tầng mà cả trong quản lý và nghiên cứu - phát triển, qua đó khai thác tốt hơn nguồn lực xã hội.

Ở góc độ điều hành, TS. Cấn Văn Lực lưu ý mục tiêu tăng trưởng cao phải luôn đi kèm yêu cầu giữ vững ổn định vĩ mô. Muốn đạt tăng trưởng 9 - 10%, cần tính toán cụ thể nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội và phương thức huy động phù hợp. Cơ cấu vốn hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, do đó đa dạng hóa nguồn vốn, đặc biệt phát triển mạnh thị trường chứng khoán và các kênh vốn trung, dài hạn là điều kiện cần để giảm rủi ro hệ thống.

Bên cạnh các yếu tố về vốn và thể chế, niềm tin của khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng đối với động lực tăng trưởng. Việc hướng dẫn rõ ràng áp dụng chính sách thuế, không hồi tố và tăng hỗ trợ kỹ thuật sẽ góp phần giảm tâm lý lo ngại của hộ kinh doanh và doanh nghiệp. Khi niềm tin được củng cố, dòng vốn và tiêu dùng sẽ vận hành thông suốt hơn, qua đó hỗ trợ tăng trưởng.

Tựu trung, năm 2026 đặt ra bài toán cân bằng giữa quyết tâm tăng trưởng cao và yêu cầu ổn định vĩ mô. Việt Nam đang có lợi thế về nền tảng tài khóa được củng cố, cán cân thanh toán tích cực và dòng vốn FDI duy trì ổn định. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tham vọng, trọng tâm chính sách cần chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua cải cách thể chế thực chất, đa dạng hóa nguồn lực và tăng năng suất lao động. Ổn định vĩ mô vì thế không phải điểm dừng, mà là nền tảng để theo đuổi tăng trưởng cao một cách bền vững trong trung hạn.

Thu Hương

Đọc thêm

Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 342/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Tăng “sức đề kháng” cho hàng Việt trước rủi ro trung chuyển

Tăng “sức đề kháng” cho hàng Việt trước rủi ro trung chuyển

(TBTCO) - Việc Hoa Kỳ xếp Việt Nam vào nhóm Tier 2 về nguy cơ trung chuyển đặt ra yêu cầu cao hơn trong kiểm chứng xuất xứ hàng hóa. Doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động xây dựng hồ sơ đủ sức chứng minh quá trình sản xuất và giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam.
Gỡ ba điểm nghẽn để hút FDI công nghệ cao

Gỡ ba điểm nghẽn để hút FDI công nghệ cao

(TBTCO) - Lợi thế chi phí không còn đủ để Việt Nam hấp dẫn các dự án công nghệ cao, yếu tố quyết định ngày càng nằm ở năng lực của nền kinh tế. Điện năng, nhân lực công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là ba điểm nghẽn Việt Nam cần ưu tiên tháo gỡ. Đây là chia sẻ của TS. Đặng Thảo Quyên - Chủ nhiệm cấp cao Bộ môn Kinh doanh quốc tế, Đại học RMIT Việt Nam khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Infographics: Bức tranh kinh tế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 8 tháng năm 2026

Infographics: Bức tranh kinh tế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 8 tháng năm 2026

(TBTCO) - Theo Thống kê TP. Hồ Chí Minh, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố tăng 19,2%; chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,59%; vốn đầu tư thực hiện tăng 23,8%... là những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh 8 tháng năm 2026.
Đà Nẵng: Khởi động dự án Bến cảng Liên Chiểu phần cơ sở hạ tầng dùng chung

Đà Nẵng: Khởi động dự án Bến cảng Liên Chiểu phần cơ sở hạ tầng dùng chung

Ban Quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ưu tiên thành phố Đà Nẵng đang tiến hành mời thầu gói thầu 04-CLC-KSNCKT: Tư vấn khảo sát, lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (bao gồm mô hình thông tin công trình BIM) thuộc dự án Đầu tư xây dựng Bến cảng Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng - Phần cơ sở hạ tầng dùng chung còn lại.
Hà Nội tăng tốc các động lực tăng trưởng, phấn đấu GRDP năm 2026 đạt từ 11% trở lên

Hà Nội tăng tốc các động lực tăng trưởng, phấn đấu GRDP năm 2026 đạt từ 11% trở lên

(TBTCO) - Hà Nội xác định hơn 100 ngày còn lại của năm 2026 là giai đoạn tăng tốc, tập trung cao độ vào đầu tư công, xây dựng, thương mại - dịch vụ và khơi thông các nguồn lực để phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên.
Dự án lớn tại Hà Nội muốn vay vượt trần 52% vốn tự có ngân hàng, phải đáp ứng loạt điều kiện

Dự án lớn tại Hà Nội muốn vay vượt trần 52% vốn tự có ngân hàng, phải đáp ứng loạt điều kiện

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất điều kiện cấp tín dụng vượt giới hạn cho các dự án lớn, quan trọng tại Hà Nội. Theo đó, khách hàng phải không có nợ xấu 3 năm liền kề, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu không quá 3 lần; mức cấp tín dụng tối đa là 38% vốn tự có với một khách hàng và 52% với khách hàng cùng người có liên quan.
Hà Nội thử nghiệm công nghệ chế biến sâu đất hiếm quy mô bán công nghiệp

Hà Nội thử nghiệm công nghệ chế biến sâu đất hiếm quy mô bán công nghiệp

(TBTCO) - Hà Nội cho phép triển khai thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) công nghệ chế biến sâu đất hiếm ở quy mô bán công nghiệp, nhằm kiểm chứng quy trình sản xuất tổng oxit đất hiếm đạt hàm lượng trên 95% từ quặng nguyên khai mỏ Đông Pao, Lai Châu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều