Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng cường nhận diện rủi ro, chống rửa tiền

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước) cho thấy, nguy cơ rửa tiền lĩnh vực bảo hiểm được đánh giá ở mức trung bình thấp. Dù vậy, trong bối cảnh Việt Nam nằm trong “danh sách xám”, việc nhận diện rủi ro từ khách hàng, sản phẩm và kênh phân phối trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và xây dựng biện pháp kiểm soát vẫn là yêu cầu cấp thiết.
aa

Siết chặt quy định phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tăng cường đào tạo phòng chống rửa tiền trên thị trường tài sản mã hóa

Củng cố hàng rào phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng, tài sản mã hóa

Đánh giá rủi ro giai đoạn 2023 - 2027, chủ động xây dựng biện pháp kiểm soát

Ngày 9/4, tại Hà Nội, Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo hướng dẫn đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo quy định của pháp luật và đánh giá rủi ro quốc gia (NRA) về rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ giai đoạn 2023 - 2027.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Huyền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhấn mạnh, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của thị trường bảo hiểm, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đang đối mặt với sự gia tăng các rủi ro liên quan đến rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

"Đây là những thách thức có tác động trực tiếp đến an toàn hoạt động của doanh nghiệp, tính minh bạch của thị trường và sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia, đòi hỏi các cơ quan quản lý và doanh nghiệp phải chủ động, nghiêm túc triển khai các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát phù hợp" - lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nêu rõ.

hướng dẫn đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo quy định của pháp luật
Hội thảo hướng dẫn đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Ảnh: Ánh Tuyết.

"Kỳ đánh giá lần này được thực hiện cho giai đoạn 2023 - 2027 không chỉ là yêu cầu tuân thủ quốc tế, mà còn là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành và doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, xác định đúng mức độ rủi ro và xây dựng các biện pháp kiểm soát phù hợp cho doanh nghiệp".

Ông Nguyễn Quang Huyền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm.

Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, tháng 6/2023, Việt Nam đã bị Lực lượng đặc nhiệm tài chính FATF đưa vào "danh sách xám". Đây là một thách thức lớn, đồng thời cũng là áp lực để Việt Nam đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi trong công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Ngay sau đó, Chính phủ Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ và ban hành Quyết định số 194/QĐ-TTg ngày 23/2/2024, phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia với 17 hành động cụ thể.

Kế hoạch này được xây dựng trên cơ sở 40 Khuyến nghị của FATF, đóng vai trò là khung định hướng toàn diện nhằm phòng ngừa và đấu tranh hiệu quả với các hành vi rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Trong Kế hoạch hành động này, việc thực hiện Đánh giá rủi ro quốc gia (NRA) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, được FATF yêu cầu triển khai định kỳ 05 năm/lần.

Trên cơ sở đó, hội thảo được Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức, có sự phối hợp của Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước), nhằm hướng dẫn doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thực hiện đánh giá rủi ro theo quy định pháp luật và đánh giá NRA, góp phần nâng cao năng lực tuân thủ, bảo đảm hoạt động an toàn, minh bạch và bền vững.

Nhận diện nguy cơ từ khách hàng, sản phẩm và kênh phân phối

Tại hội thảo, các chuyên gia đến từ Cục Phòng, chống rửa tiền - Ngận hàng Nhà nước sẽ có nhiều chia sẻ cụ thể, chuyên sâu về đánh giá rủi ro quốc gia - lĩnh vực bảo hiểm, đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, yêu cấu thực hiện theo quy định trong việc đánh giá rủi ro tại tổ chức, cách thức thực hiện đánh giá. Đây là cơ hội để các cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và các bên liên quan cùng thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật.

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng cường nhận diện rủi ro, chống rửa tiền
Nguồn: Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước).

Chia sẻ tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Minh Thơ - Phó Cục trưởng, Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) cho biết, pháp luật quy định 5 năm thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia một lần, còn hàng năm các tổ chức báo cáo phải tự thực hiện đánh giá rủi ro tại đơn vị. Tuy nhiên, không chờ đủ 5 năm, các tổ chức quốc tế liên tục yêu cầu Việt Nam cập nhật tình hình do Việt Nam đang nằm trong “danh sách xám”, từ đó, tạo sức ép lớn đối với công tác đánh giá rủi ro quốc gia trong bối cảnh hiện nay.

Theo bà Thơ, trong các lĩnh vực, mức độ rủi ro cao tập trung ở ngành ngân hàng, bất động sản, hoạt động chuyển tiền phi chính thức; còn các công ty, cửa hàng cầm đồ được xếp ở mức trung bình cao. Theo đó, công an địa phương thường đến từng hiệu cầm đồ yêu cầu ký cam kết tương tự như cam kết phòng cháy chữa cháy, hoặc mời lên trụ sở phường để tập huấn theo từng khu vực. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ tiếp cận đối với lĩnh vực kinh doanh kim khí quý, đá quý, như các cửa hàng vàng bạc... vốn cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Trong khi đó, Phó Cục trưởng, Cục Phòng, chống rửa tiền nhấn mạnh, nguy cơ rửa tiền của lĩnh vực bảo hiểm được đánh giá ở mức trung bình thấp. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2018 - 2022 không ghi nhận vụ việc xét xử rửa tiền nào liên quan đến lĩnh vực này.

Dù vậy, một số dấu hiệu đáng ngờ đã được nhận diện như đóng phí bảo hiểm một lần, mua bảo hiểm mang tính chất đầu tư rồi hủy hợp đồng. Tuy nhiên, các báo cáo giao dịch đáng ngờ mà cơ quan quản lý nhận được từ doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu liên quan đến các đối tượng bị can, bị cáo hoặc người đã bị kết án tham gia mua bảo hiểm. Nhìn chung, mức độ vi phạm và rủi ro trong ngành ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với lĩnh vực bảo hiểm.

Đánh giá rủi ro về rửa tiền tại doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, theo bà Vũ Thị Diễm - Cục Phòng, chống rửa tiền, Điều 3 Thông tư số 27/2025/TT-NHNN quy định tiêu chí đánh giá rủi ro về rửa tiền gồm 03 lớp tiêu chí; phương pháp đánh giá là chấm điểm theo thang từ 1 - 5; kỳ thu thập thông tin, số liệu từ ngày 01/01 đến 31/12 của năm đánh giá/cập nhật; thời hạn hoàn thành báo cáo chậm nhất ngày 31/3 năm tiếp theo.

Theo đại diện Cục Phòng, chống rửa tiền, việc đánh giá rủi ro rửa tiền tại doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ được thực hiện trên nhiều khía cạnh.

Trước hết là đánh giá nguy cơ từ khách hàng, trong đó bước 1 là phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro dựa trên các yếu tố gồm: khách hàng; sản phẩm, dịch vụ đang hoặc dự kiến sử dụng; vị trí địa lý cư trú hoặc đặt trụ sở; các yếu tố khác theo quy trình quản lý rủi ro nội bộ.

Cụ thể, yếu tố khách hàng bao gồm danh tính và khả năng xác minh, nghề nghiệp, loại hình kinh doanh, nguồn tiền/tài sản, thời gian quan hệ, lịch sử giao dịch, thông tin tiêu cực và danh sách trừng phạt. Bước 2 là tính điểm nguy cơ rửa tiền từ toàn bộ khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.

Đồng thời, doanh nghiệp thực hiện đánh giá rủi ro từ sản phẩm, dịch vụ theo các nhóm gồm: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư (liên kết chung và liên kết đơn vị) và bảo hiểm hưu trí.

Ngoài ra, rủi ro còn được đánh giá theo kênh phân phối sản phẩm, bao gồm: đại lý bảo hiểm cá nhân, đại lý bảo hiểm tổ chức, môi giới bảo hiểm, kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối số./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VietABank lãi hơn 800 tỷ đồng, mở rộng huy động vốn quốc tế tạo đà tăng tín dụng

VietABank lãi hơn 800 tỷ đồng, mở rộng huy động vốn quốc tế tạo đà tăng tín dụng

(TBTCO) - VietABank lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 826,3 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng đồng đều ở các nguồn thu cốt lõi. Việc mở rộng huy động vốn trong nước và quốc tế tạo dư địa để ngân hàng đẩy mạnh cho vay, đưa dư nợ tiến sát mốc 100.000 tỷ đồng và duy trì chất lượng tài sản.
Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

(TBTCO) - Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (WB) thống nhất xây dựng danh mục các dự án dự kiến vay vốn giai đoạn 2026 - 2030, ưu tiên các dự án hiệu quả, tạo sức lan tỏa. Đồng thời, đưa ra những định hướng đổi mới trong triển khai, bảo đảm an toàn nợ công và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.
ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
NL 99.99 12,950 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▼50K
Trang sức 99.9 13,340 ▼150K 14,040 ▼150K
Trang sức 99.99 13,350 ▼150K 14,050 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1236K 14,152 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1236K 14,153 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▼1248K 141 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▼1248K 1,411 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1221K 139 ▼1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▼1485K 137,624 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼86275K 10,441 ▼95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲84020K 94,679 ▲93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▼916K 84,948 ▼916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲64168K 81,195 ▲72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▼625K 58,119 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cập nhật: 28/07/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18087 18663
CAD 18135 18410 19029
CHF 31463 31842 32490
CNY 0 3848 3942
EUR 29288 29508 30592
GBP 34171 34562 35497
HKD 0 3228 3430
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14879 15464
SGD 19821 20103 20677
THB 699 762 815
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26150 26520
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,429 29,453 30,858
JPY 156.44 156.72 166.18
GBP 34,368 34,461 35,658
AUD 18,017 18,082 18,764
CAD 18,305 18,364 19,039
CHF 31,758 31,857 32,794
SGD 19,949 20,011 20,792
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.61 17.32 18.84
THB 746.29 755.51 809.03
NZD 14,864 15,002 15,445
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,075
NOK - 2,676 2,771
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,019.21 - 6,794.39
TWD 733.68 - 888.71
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,206 88,522
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,135 26,515
EUR 29,394 29,512 30,703
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,623 31,750 32,665
JPY 156.73 157.36 165.26
AUD 18,056 18,129 18,725
SGD 20,034 20,114 20,703
THB 762 765 801
CAD 18,316 18,390 18,966
NZD 14,953 15,496
KRW 17.14 19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26154 26154 26514
AUD 17997 18097 19020
CAD 18304 18404 19418
CHF 31703 31733 33315
CNY 3829.8 3854.8 3990.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34472 34522 36282
HKD 0 3355 0
JPY 157.19 157.69 168.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14984 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19976 20106 20838
THB 0 727.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,530
USD20 26,109 26,209 26,536
USD1 26,059 26,209 26,571
AUD 18,057 18,157 19,264
EUR 29,286 29,386 31,045
CAD 18,248 18,348 19,654
SGD 20,067 20,217 20,781
JPY 157.75 159.25 164.8
GBP 34,399 34,549 35,770
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/07/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80