Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng cường nhận diện rủi ro, chống rửa tiền

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước) cho thấy, nguy cơ rửa tiền lĩnh vực bảo hiểm được đánh giá ở mức trung bình thấp. Dù vậy, trong bối cảnh Việt Nam nằm trong “danh sách xám”, việc nhận diện rủi ro từ khách hàng, sản phẩm và kênh phân phối trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và xây dựng biện pháp kiểm soát vẫn là yêu cầu cấp thiết.
aa

Siết chặt quy định phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tăng cường đào tạo phòng chống rửa tiền trên thị trường tài sản mã hóa

Củng cố hàng rào phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng, tài sản mã hóa

Đánh giá rủi ro giai đoạn 2023 - 2027, chủ động xây dựng biện pháp kiểm soát

Ngày 9/4, tại Hà Nội, Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo hướng dẫn đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo quy định của pháp luật và đánh giá rủi ro quốc gia (NRA) về rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ giai đoạn 2023 - 2027.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Huyền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhấn mạnh, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của thị trường bảo hiểm, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đang đối mặt với sự gia tăng các rủi ro liên quan đến rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

"Đây là những thách thức có tác động trực tiếp đến an toàn hoạt động của doanh nghiệp, tính minh bạch của thị trường và sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia, đòi hỏi các cơ quan quản lý và doanh nghiệp phải chủ động, nghiêm túc triển khai các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát phù hợp" - lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nêu rõ.

hướng dẫn đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo quy định của pháp luật
Hội thảo hướng dẫn đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Ảnh: Ánh Tuyết.

"Kỳ đánh giá lần này được thực hiện cho giai đoạn 2023 - 2027 không chỉ là yêu cầu tuân thủ quốc tế, mà còn là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành và doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, xác định đúng mức độ rủi ro và xây dựng các biện pháp kiểm soát phù hợp cho doanh nghiệp".

Ông Nguyễn Quang Huyền - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm.

Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, tháng 6/2023, Việt Nam đã bị Lực lượng đặc nhiệm tài chính FATF đưa vào "danh sách xám". Đây là một thách thức lớn, đồng thời cũng là áp lực để Việt Nam đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi trong công tác phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Ngay sau đó, Chính phủ Việt Nam đã có những cam kết mạnh mẽ và ban hành Quyết định số 194/QĐ-TTg ngày 23/2/2024, phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia với 17 hành động cụ thể, triển khai trong thời hạn 02 năm, từ tháng 6/2023 đến tháng 5/2025.

Kế hoạch này được xây dựng trên cơ sở 40 Khuyến nghị của FATF, đóng vai trò là khung định hướng toàn diện nhằm phòng ngừa và đấu tranh hiệu quả với các hành vi rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Trong Kế hoạch hành động này, việc thực hiện Đánh giá rủi ro quốc gia (NRA) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, được FATF yêu cầu triển khai định kỳ 05 năm/lần.

Trên cơ sở đó, hội thảo được Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức, có sự phối hợp của Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước), nhằm hướng dẫn doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thực hiện đánh giá rủi ro theo quy định pháp luật và đánh giá NRA, góp phần nâng cao năng lực tuân thủ, bảo đảm hoạt động an toàn, minh bạch và bền vững.

Nhận diện nguy cơ từ khách hàng, sản phẩm và kênh phân phối

Tại hội thảo, các chuyên gia đến từ Cục Phòng, chống rửa tiền - Ngận hàng Nhà nước sẽ có nhiều chia sẻ cụ thể, chuyên sâu về đánh giá rủi ro quốc gia - lĩnh vực bảo hiểm, đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, yêu cấu thực hiện theo quy định trong việc đánh giá rủi ro tại tổ chức, cách thức thực hiện đánh giá. Đây là cơ hội để các cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và các bên liên quan cùng thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật.

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tăng cường nhận diện rủi ro, chống rửa tiền
Nguồn: Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước).

Chia sẻ tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Minh Thơ - Phó Cục trưởng, Cục Phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) cho biết, pháp luật quy định 5 năm thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia một lần, còn hàng năm các tổ chức báo cáo phải tự thực hiện đánh giá rủi ro tại đơn vị. Tuy nhiên, không chờ đủ 5 năm, các tổ chức quốc tế liên tục yêu cầu Việt Nam cập nhật tình hình do Việt Nam đang nằm trong “danh sách xám”, từ đó, tạo sức ép lớn đối với công tác đánh giá rủi ro quốc gia trong bối cảnh hiện nay.

Theo bà Thơ, trong các lĩnh vực, mức độ rủi ro cao tập trung ở ngành ngân hàng, bất động sản, hoạt động chuyển tiền phi chính thức; còn các công ty, cửa hàng cầm đồ được xếp ở mức trung bình cao. Theo đó, công an địa phương thường đến từng hiệu cầm đồ yêu cầu ký cam kết tương tự như cam kết phòng cháy chữa cháy, hoặc mời lên trụ sở phường để tập huấn theo từng khu vực. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ tiếp cận đối với lĩnh vực kinh doanh kim khí quý, đá quý, như các cửa hàng vàng bạc... vốn cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Trong khi đó, Phó Cục trưởng, Cục Phòng, chống rửa tiền nhấn mạnh, nguy cơ rửa tiền của lĩnh vực bảo hiểm được đánh giá ở mức trung bình thấp. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2018 - 2022 không ghi nhận vụ việc xét xử rửa tiền nào liên quan đến lĩnh vực này.

Dù vậy, một số dấu hiệu đáng ngờ đã được nhận diện như đóng phí bảo hiểm một lần, mua bảo hiểm mang tính chất đầu tư rồi hủy hợp đồng. Tuy nhiên, các báo cáo giao dịch đáng ngờ mà cơ quan quản lý nhận được từ doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu liên quan đến các đối tượng bị can, bị cáo hoặc người đã bị kết án tham gia mua bảo hiểm. Nhìn chung, mức độ vi phạm và rủi ro trong ngành ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với lĩnh vực bảo hiểm.

Đánh giá rủi ro về rửa tiền tại doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, theo bà Vũ Thị Diễm - Cục Phòng, chống rửa tiền, Điều 3 Thông tư số 27/2025/TT-NHNN quy định tiêu chí đánh giá rủi ro về rửa tiền gồm 03 lớp tiêu chí; phương pháp đánh giá là chấm điểm theo thang từ 1 - 5; kỳ thu thập thông tin, số liệu từ ngày 01/01 đến 31/12 của năm đánh giá/cập nhật; thời hạn hoàn thành báo cáo chậm nhất ngày 31/3 năm tiếp theo.

Theo đại diện Cục Phòng, chống rửa tiền, việc đánh giá rủi ro rửa tiền tại doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ được thực hiện trên nhiều khía cạnh.

Trước hết là đánh giá nguy cơ từ khách hàng, trong đó bước 1 là phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro dựa trên các yếu tố gồm: khách hàng; sản phẩm, dịch vụ đang hoặc dự kiến sử dụng; vị trí địa lý cư trú hoặc đặt trụ sở; các yếu tố khác theo quy trình quản lý rủi ro nội bộ.

Cụ thể, yếu tố khách hàng bao gồm danh tính và khả năng xác minh, nghề nghiệp, loại hình kinh doanh, nguồn tiền/tài sản, thời gian quan hệ, lịch sử giao dịch, thông tin tiêu cực và danh sách trừng phạt. Bước 2 là tính điểm nguy cơ rửa tiền từ toàn bộ khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.

Đồng thời, doanh nghiệp thực hiện đánh giá rủi ro từ sản phẩm, dịch vụ theo các nhóm gồm: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư (liên kết chung và liên kết đơn vị) và bảo hiểm hưu trí.

Ngoài ra, rủi ro còn được đánh giá theo kênh phân phối sản phẩm, bao gồm: đại lý bảo hiểm cá nhân, đại lý bảo hiểm tổ chức, môi giới bảo hiểm, kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối số./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

Thiết kế chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng GDP cao trước nhiều bất định

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều yếu tố “bất ổn, bất định”, áp lực lạm phát chi phí đẩy gia tăng, dư địa điều hành chính sách tiền tệ trong nước thu hẹp. Trong khi đó, kênh tín dụng vẫn là trục truyền dẫn chính, gánh nặng vốn trung - dài hạn và rủi ro thanh khoản thường trực. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu thiết kế chính sách tiền tệ vừa hỗ trợ tăng trưởng cao, vừa giữ ổn định vĩ mô.
VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế khi đồng thời được vinh danh tại hai giải thưởng quốc tế quan trọng: “Ngân hàng dành cho Khách hàng doanh nghiệp tốt nhất Việt Nam” và “Nền tảng số dành cho đơn vị chấp nhận thanh toán tốt nhất Việt Nam” trong khuôn khổ International Finance Awards 2025.
Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu bảo hiểm 4.139 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 320 tỷ đồng, giảm 14,2%. Doanh nghiệp tiếp tục định hướng tăng trưởng thận trọng, tối ưu hiệu quả. Đồng thời, PTI dự kiến phát hành cổ phiếu tăng vốn theo tỷ lệ 2:1 và "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%.
Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

(TBTCO) - Trong bối cảnh nhu cầu tài chính cá nhân gia tăng và hành vi người dùng dịch chuyển mạnh sang môi trường số, VietCredit đẩy mạnh hệ sinh thái Tin Vay - giải pháp vay tiêu dùng cá nhân tích giúp người Việt tiếp cận khoản vay nhanh chóng và thuận tiện.
Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

(TBTCO) - Manulife Việt Nam vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với kết quả kinh doanh tích cực, tiếp tục khẳng định định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm trong hoạt động vận hành và phát triển sản phẩm và dịch vụ.
Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

(TBTCO) - Với mục tiêu lợi nhuận trước thuế hơn 6.450 tỷ đồng năm 2026, VPBankS đang bước vào giai đoạn tăng tốc mới, nơi các cấu phần kinh doanh cốt lõi được định vị rõ ràng hơn. Trong bối cảnh đó, việc thị trường chứng khoán Việt Nam vừa chính thức được nâng hạng kỳ vọng sẽ trở thành “lực đẩy” quan trọng.
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼250K 17,150 ▼350K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼250K 17,160 ▼350K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼230K 17,150 ▼330K
Nguyên Liệu 99.99 15,750 ▼140K 15,950 ▼140K
Nguyên Liệu 99.9 15,700 ▼140K 15,900 ▼140K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼310K 16,950 ▼310K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼310K 16,900 ▼310K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼310K 16,880 ▼310K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼3000K 171,000 ▼3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,750 ▼350K 17,150 ▼350K
Miếng SJC Nghệ An 16,750 ▼350K 17,150 ▼350K
Miếng SJC Thái Bình 16,750 ▼350K 17,150 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,750 ▼350K 17,100 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,750 ▼350K 17,100 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,750 ▼350K 17,100 ▼300K
NL 99.90 15,470 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500 ▼150K
Trang sức 99.9 16,290 ▼300K 16,990 ▼300K
Trang sức 99.99 16,300 ▼300K 17,000 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▲1514K 17,152 ▼350K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▲1514K 17,153 ▼350K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 168 ▼1537K 171 ▼1574K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 168 ▼1537K 1,711 ▼35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 166 ▼1519K 1,695 ▲1522K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,322 ▼3465K 167,822 ▼3465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,388 ▼2625K 127,288 ▼2625K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,522 ▼2380K 115,422 ▼2380K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,655 ▼2136K 103,555 ▼2136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,078 ▼2041K 98,978 ▼2041K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,939 ▼1459K 70,839 ▼1459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1514K 1,715 ▲1540K
Cập nhật: 09/04/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17967 18241 18817
CAD 18457 18734 19351
CHF 32609 32993 33641
CNY 0 3800 3870
EUR 30052 30325 31350
GBP 34420 34812 35746
HKD 0 3228 3430
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15041 15623
SGD 20091 20374 20902
THB 736 799 852
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26140 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,253 30,277 31,526
JPY 161.63 161.92 170.62
GBP 34,707 34,801 35,783
AUD 18,227 18,293 18,868
CAD 18,698 18,758 19,330
CHF 32,924 33,026 33,787
SGD 20,270 20,333 21,009
CNY - 3,789 3,909
HKD 3,302 3,312 3,430
KRW 16.41 17.11 18.51
THB 785.72 795.42 846.39
NZD 15,052 15,192 15,548
SEK - 2,781 2,862
DKK - 4,048 4,165
NOK - 2,705 2,784
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,194.83 - 6,948.76
TWD 748.85 - 901.61
SAR - 6,915.31 7,239.3
KWD - 83,816 88,631
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,126 30,247 31,426
GBP 34,635 34,774 35,779
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,674 32,805 33,730
JPY 161.86 162.51 169.83
AUD 18,175 18,248 18,837
SGD 20,292 20,373 20,956
THB 800 803 838
CAD 18,661 18,736 19,300
NZD 15,089 15,620
KRW 17.05 18.73
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26357
AUD 18148 18248 19173
CAD 18638 18738 19754
CHF 32848 32878 34457
CNY 3789.4 3814.4 3949.6
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30227 30257 31982
GBP 34713 34763 36524
HKD 0 3355 0
JPY 162.07 162.57 173.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15145 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20249 20379 21110
THB 0 765.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,154 26,204 26,357
USD20 26,154 26,204 26,357
USD1 26,154 26,204 26,357
AUD 18,224 18,324 19,433
EUR 30,407 30,407 31,818
CAD 18,604 18,704 20,013
SGD 20,346 20,496 21,062
JPY 162.83 164.33 168.91
GBP 34,664 35,014 36,140
XAU 16,748,000 0 17,152,000
CNY 0 3,702 0
THB 0 800 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/04/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80