FED hạ lãi suất, Việt Nam có dư địa duy trì lãi suất thấp hỗ trợ kinh tế

Chí Tín
(TBTCO) - Cuộc họp của FED đang diễn ra với khả năng gần như chắc chắn FED hạ lãi suất. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ nền kinh tế, đặc biệt sau những khó khăn vừa qua do bão lũ.
aa
FED hạ lãi suất, Việt Nam có dư địa duy trì lãi suất thấp hỗ trợ kinh tế
Các ngân hàng đã khẩn trương vào cuộc hỗ trợ doanh nghiệp và người dân khắc phục hậu quả bão số 3. Ảnh tư liệu.
FED hạ lãi suất, Việt Nam có dư địa duy trì lãi suất thấp hỗ trợ kinh tế Thị trường chứng khoán sẽ diễn biến thế nào khi FED hạ lãi suất? Tâm lý vẫn ngóng đợi “giờ G” quyết định cuối cùng của FED

2 kịch bản của FED

Cuộc họp của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) kéo dài 2 ngày 17 và 18/9 đang là tâm điểm đáng chú ý của thị trường tài chính thời điểm này, dự kiến kết quả cuộc họp sẽ được công bố vào rạng sáng ngày 19/9 theo giờ Việt Nam.

Điều thị trường kỳ vọng nhiều nhất tại cuộc này là việc cơ quan điều hành thị trường tiền tệ của Mỹ sẽ thực hiện đợt cắt giảm lãi suất đầu tiên sau hơn 1 năm neo lãi suất ở mức cao 5,25 - 5,5%. Ông Phan Dũng Khánh - Giám đốc Tư vấn đầu tư thuộc Maybank Investment Bank cho biết, khả năng hạ lãi suất của FED gần như chắc chắn, vấn đề hiện tại chỉ là mức độ hạ là bao nhiêu.

Trong những ngày qua, việc FED sẽ cắt giảm lãi suất ở mức độ nào hiện đang là một đề tài khá kịch tính và càng sát đến ngày họp của FED, các thông số dự bán vẫn tiếp tục biến động. Tại thời điểm sáng ngày 17/9, công cụ FEDWatch đo lường chỉ số dự báo của thị trường về quyết định của FED cho thông số khả năng cơ quan này giảm 0,25% (về mức 5 - 5,25%) là 38% và khả năng FED giảm 0,5% (về mức 4,75 - 5%) là 62%.

Dự đoán cho thấy khả năng FED giảm 0,5% đã chiếm ưu thế hơn hẳn, diễn biến này đã đảo lộn khá nhanh so với các dự đoán trước đó khi các dự báo trước đây vẫn nghiêng về khả năng FED chỉ giảm 0,25%. Cụ thể, dự báo trước đó 1 tuần đưa ra khả năng giảm nhẹ xuống mức 5 - 5,25% là đạt xác xuất lên tới 70%, xác xuất cho kịch bản giảm mạnh lãi suất chỉ là 30%. 1 tháng được đó, xác xuất cho kịch bản giảm nhẹ xuống 5 - 5,25% thậm chí còn cao hơn, với tỷ lệ là 75%.

Các dự báo về việc FED gần như chắc chắn sẽ hạ lãi suất trong cuộc họp sắp tới thực tế đã có những phản ứng sớm tới thị trường tài chính quốc tế, đặc biệt là tác động làm giảm giá đồng USD. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD tại thời điểm sáng ngày 17/9 theo giờ Việt Nam đã giảm xuống dưới 101 điểm, mức giảm khá mạnh so với mặt bằng trên 106 điểm vào thời điểm tháng 6/2024.

Điều kiện tốt để Việt Nam duy trì lãi suất thấp

Sự giảm giá của đồng USD trên thị trường quốc tế cũng có tác động tích cực đối với tỷ giá của đồng Việt Nam so với đồng tiền này. Tỷ giá bán ra tại Vietcombank thời điểm hiện tại chỉ còn ở mức khoảng 24.700 đồng/USD, hạ nhiệt đáng kể so với thời điểm giữa năm 2024 với tỷ giá bán ra tại Vietcombank luôn ở mặt bằng khoảng 25.500 đồng/USD.

Theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp thuộc Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, nếu tỷ giá bớt áp lực và trong bối cảnh đồng USD hạ nhiệt, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ không cần nâng lãi suất điều hành để ứng phó với áp lực tỷ giá nữa, khả năng giữ lãi suất thấp của Việt Nam vẫn còn. Thực tế trong bối cảnh áp lực tỷ giá vơi bớt gần đây, NHNN đã thực hiện một loạt biện pháp mang tính nới lỏng chính sách tiền tệ. “Tất cả những động thái này cho thấy định hướng của NHNN trong việc hỗ trợ thanh khoản hệ thống nhằm thiết lập một mặt bằng lãi suất liên ngân hàng mới thấp hơn” - ông Huân nói.

Theo số liệu của NHNN, tính đến đầu tháng 9/2024, lãi suất cho vay với những khoản mới trung bình là 6,23%, giảm khoảng 0,86% so với cuối năm 2023. Trong khi đó, lãi suất thị trường liên ngân hàng cũng đi vào xu hướng giảm trong giai đoạn nửa đầu tháng 9. Cụ thể, lãi suất cho vay qua đêm thị trường tiền tệ liên ngân hàng đầu tháng 9 ghi nhận ở mức 4,59%, sau đó đã giảm liên tục đến giữa tháng 9 đã về mốc 3,47%.

Đặc biệt, khả năng duy trì lãi suất thấp càng có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp những khó khăn do cơn bão Yagi vừa qua gây ra. Báo cáo sơ bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, bão số 3 gây thiệt hại khoảng 40.000 tỷ đồng về tài sản của nhân dân và nhà nước.

Ở góc độ ngành ngân hàng, vừa qua các ngân hàng đã vào cuộc để thực hiện các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân khắc phục hậu quả sau bão số 3, sớm phục hồi năng lực sản xuất. Ông Lê Hoàng Tùng - Phó tổng Giám đốc Vietcombank ước tính đã có gần 6.000 khách hàng của Vietcombank bị ảnh hưởng với tổng dư nợ khoảng 71.000 tỷ đồng. Vietcombank đã xem xét giảm lãi suất 0,5% trong giai đoạn từ ngày 6/9/2024 đến ngày 31/12/2024 đối với các khách hàng vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, với dư nợ khoảng 130 nghìn tỷ đồng và số lượng khách hàng được giảm lãi suất là gần 20.000 khách hàng.

Cho vay tiêu dùng để người dân mua đồ dùng trang thiết bị

NHNN cho biết, đã có văn bản gửi các ngân hàng thương mại phải tập trung hỗ trợ ngay cho doanh nghiệp, người dân vay vốn. Giải pháp là có thể tạm thời khoanh nợ, hoãn giãn nợ, giảm lãi ngay những khoản đã đến hạn; cho vay tiêu dùng để người dân có thể có nguồn kinh phí mua sắm những đồ dùng trang thiết bị cho sinh hoạt cuộc sống.

Chí Tín

Đọc thêm

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 145,300
Hà Nội - PNJ 142,300 145,300
Đà Nẵng - PNJ 142,300 145,300
Miền Tây - PNJ 142,300 145,300
Tây Nguyên - PNJ 142,300 145,300
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 145,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 14,530
Miếng SJC Nghệ An 14,230 14,530
Miếng SJC Thái Bình 14,230 14,530
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 14,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 14,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 14,580
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 14,490
Trang sức 99.99 13,900 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 14,532
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 14,533
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 1,449
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 1,438
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 142,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 108,011
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 97,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 87,877
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 83,994
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 60,121
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Cập nhật: 16/09/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17966 18241 18820
CAD 18122 18397 19017
CHF 31081 31459 32106
CNY 0 3825 3922
EUR 29314 29534 30615
GBP 34177 34568 35505
HKD 0 3179 3381
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14647 15235
SGD 19864 20145 20716
THB 695 759 812
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18153 18253 19178
CAD 18317 18417 19431
CHF 31333 31363 32941
CNY 3806.2 3831.2 3966.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29495 29525 31248
GBP 34484 34534 36294
HKD 0 3305 0
JPY 163.99 164.49 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14767 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20019 20149 20871
THB 0 724.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 16/09/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30