Giá USD ngân hàng vượt 26.000 đồng, lo sụt giảm nguồn cung USD do thuế quan Mỹ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 3/4, tỷ giá USD/VND tại các ngân hàng thương mại tăng mạnh, chiều bán vượt ngưỡng 26.000 VND/USD dù Ngân hàng Nhà nước chỉ tăng nhẹ tỷ giá trung tâm. Sự điều chỉnh này xuất phát từ lo ngại sự suy giảm nguồn cung USD do tác động từ thuế đối ứng của Mỹ.
aa

Ngày 3/4, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá trung tâm tăng nhẹ 3 đồng so với phiên hôm qua, lên mức 24.854 VND/USD. Theo đó, với biên độ dao động 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong khoảng 23.612 - 26.096 đồng/USD.

Chứng khoán châu Á trái chiều sau cuộc chiến thuế quan Mỹ - Trung Những ngành nào bị ảnh hưởng nếu Mỹ áp thuế quan lên Việt Nam? Mỹ áp thuế 46% đối với 90% hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam Nhóm ngành nào "an toàn" trước việc Mỹ áp thuế quan lên Việt Nam?

Tỷ giá bán USD tăng kỷ lục, vượt mốc 26.000 VND/USD

Tỷ giá USD tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng tăng 3 đồng/USD, được điều chỉnh lên mức 23.662 - 26.046 đồng/USD (mua vào - bán ra). Tuy nhiên, động thái đáng chú ý là tại các ngân hàng thương mại, ngay khi mở cửa phiên giao dịch, giá USD tại các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng mạnh, chính thức vượt mốc 26.000 VND/USD, mức cao nhất trong lịch sử.

Cuối phiên giao dịch ngày 3/4, tại Vietcombank, giá USD bật tăng 180 đồng cả hai chiều mua vào - bán ra, lên 25.610 - 26.000 VND/USD. Vietinbank niêm yết ở mức 25.628 - 25.988 VND/USD, tăng mạnh 328 đồng chiều mua và 108 đồng chiều bán ra. Eximbank tăng giá USD lên mức 25.610 - 26.010 đồng/USD (mua - bán), đắt hơn 180 đồng.

Lo ngại giảm nguồn cung USD

"Lý do tỷ giá USD/VND tăng mạnh có thể đến từ lo ngại xuất khẩu của Việt Nam giảm, dẫn đến nguồn thu USD giảm theo. Mặc dù cung USD giảm, nhưng nhu cầu USD vẫn tăng do cần nhập khẩu máy móc phục vụ cho đầu tư" - TS. Nguyễn Đức Độ, Phó viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính lý giải.

Với biên độ tăng vài trăm đồng chỉ trong một phiên, đây là mức biến động mạnh nhất trong nhiều tháng qua. Hơn ba tháng đầu năm, tỷ giá USD bán ra của Vietcombank tăng 1,7%, trong khi tỷ giá trung tâm do NHNN công bố tăng 519 đồng, cao hơn đáng kể so với mức tăng 469 đồng trong cả năm 2024.

Đợt giá USD tăng mạnh diễn ra trong bối cảnh Mỹ vừa công bố áp thuế nhập khẩu đối ứng lên hơn 180 nền kinh tế, trong đó Việt Nam.

Dự báo, việc Mỹ áp thuế có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam, giảm nguồn cung USD từ thặng dư thương mại. Nhà đầu tư có thể lo ngại về triển vọng kinh tế Việt Nam, dẫn đến tâm lý giữ USD, hoặc chuyển vốn ra ngoài, đẩy tăng nhu cầu USD trong nước và đẩy tỷ giá USD/VND lên. Các doanh nghiệp nhập khẩu hoặc nợ bằng USD có thể mua vào USD để phòng ngừa rủi ro, càng làm tỷ giá tăng nhanh hơn.

Áp lực mất giá nhiều đồng tiền do thuế quan của Mỹ

Điều đáng chú ý là chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD, lại suy yếu nhất trong vòng 6 tháng qua, với mức giảm mạnh 2,3%, chỉ còn 101,55 điểm, bất chấp chính sách thuế mới của Tổng thống Donald Trump. Theo giới phân tích, bảng thuế suất thuế đối ứng áp lên các đối tác thương mại của Mỹ tồi tệ hơn dự đoán và có thể làm tăng nguy cơ suy thoái ở Mỹ.

Các mức thuế trừng phạt của Tổng thống Trump tác động mạnh đến châu Á, với mức thuế đối ứng cao 46% đánh vào Việt Nam do có thâm hụt thương mại lớn thứ hai với Mỹ sau Trung Quốc. Một số quốc gia khác cũng chịu thuế suất cao như: Campuchia là 49%, Sri Lanka là 44% và Bangladesh là 37%...

Các nền kinh tế lớn trong khu vực như Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc có mức thuế thấp hơn, khoảng 24 - 26%. Tuy nhiên, Singapore có mức thuế tương đối thấp, chỉ 10%, do thâm hụt thương mại song phương với Mỹ nhỏ hơn.

Các mức thuế nhập khẩu mới này nhằm giảm thâm hụt thương mại của Mỹ và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Mối lo lớn nhất là điều này sẽ dẫn đến thuế đối ứng từ các quốc gia khác, dẫn đến một cuộc chiến thương mại toàn diện, có thể làm chậm lại tăng trưởng toàn cầu, gia tăng lạm phát và tạo áp lực mất giá lên tiền tệ khu vực.

Cùng với đó, lạm phát cao hơn ở Mỹ cũng sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) gặp khó khăn. Việc giảm lãi suất như dự đoán vào năm 2025 sẽ trở nên khó khăn. Các đồng tiền châu Á có thể chịu áp lực giảm giá mạnh hơn khi tâm lý thị trường trở nên thận trọng, ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Giá USD ngân hàng vượt 26.000 đồng, lo sụt giảm nguồn cung USD do thuế quan Mỹ
Bảng thuế suất thuế đối ứng Mỹ áp lên một số quốc gia tại châu Á. Ảnh tư liệu.

Trong phiên họp của Thường trực Chính phủ với các bộ, ngành sáng ngày 3/4 đánh giá tình hình, thảo luận về các giải pháp trước mắt và lâu dài sau khi phía Mỹ vừa công bố áp thuế đối ứng với hàng hóa đến từ nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thành lập ngay tổ phản ứng nhanh về vấn đề này do Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn đứng đầu; giao Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc chủ trì, chỉ đạo các bộ, ngành tổ chức lắng nghe ý kiến từ các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp xuất khẩu lớn.

Theo đó, Việt Nam có khả năng sẽ tiếp tục đàm phán với Mỹ bằng cách đưa ra thêm các nhượng bộ, chẳng hạn như giảm thuế nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng, bao gồm ô tô, khí hóa lỏng và một số sản phẩm nông nghiệp.

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đối mặt với nguy cơ, gây suy giảm nguồn cung USD

Trong báo cáo góc nhìn tín nhiệm "Thuế quan cao hơn của Mỹ sẽ thách thức các nhà sản xuất và các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam" công bố mới đây, chuyên gia từ VIS Rating nhận định, khi Việt Nam bị tăng thuế thì những ngành công nghiệp chính sẽ bị ảnh hưởng và dễ bị tổn thương nhất là đồ điện tử, thiết bị máy móc, dệt may, giày dép và đồ gỗ.

Các ngành này chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ và nhiều doanh nghiệp có tỷ lệ doanh thu xuất khẩu phụ thuộc cao vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, tác động sẽ phân hóa giữa các ngành và từng công ty.

Giá USD ngân hàng vượt 26.000 đồng, lo sụt giảm nguồn cung USD do thuế quan Mỹ
Nguồn: VIS Rating.

Các công ty đa quốc gia sản xuất điện tử và thiết bị máy móc tại Việt Nam có khả năng phản ứng với thuế quan tốt hơn bằng cách chuyển một phần hoạt động sản xuất hoặc hàng hóa hoàn thiện sang các quốc gia khác. Tuy nhiên, các nhà sản xuất nội địa về dệt may, giày dép và đồ gỗ có thể có ít lựa chọn để chuyển hướng và tìm thị trường tiêu thụ thay thế.

Những doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào doanh số xuất khẩu sẽ phải đối mặt với chi phí cao hơn, số lượng đơn hàng giảm sút, dẫn đến nguồn cung USD suy giảm.

Trong số các nhà sản xuất dệt may nội địa, Công ty May Sông Hồng (MSH) có 80% doanh thu xuất khẩu từ thị trường Mỹ, TNG (TNG) 46%, Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VGT) 35%, Dệt May Thành Công (TCM) 25%. Savimex (SAV), một nhà sản xuất đồ gỗ lớn, có 50% doanh thu từ xuất khẩu là sang thị trường Mỹ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80