Giá vàng hôm nay (25/4): Thế giới và trong nước tiếp tục leo dốc

Tiếp theo đà tăng của phiên trước, sáng nay giá vàng thế giới tăng thêm 68,37 USD/oune trong 24 giờ qua. Trong nước, các thương hiệu cũng đồng loạt điều chỉnh tăng theo, với mức tăng khá cao nên giá vàng trong nước hiện đang đắt hơn giá vàng thế giới khoảng 14,5 triệu đồng/lượng.
aa
Giá vàng hôm nay (25/4): Thế giới và trong nước tiếp tục leo dốc
Diễn biến giá vàng thế giới trong 24 giờ qua.

Thị trường thế giới

Tại thời điểm 05:10:52 sáng 25/04, theo Kitco, giá vàng giao ngay dừng tại mốc 3.353,73 USD/oune, tăng 68,37 USD/oune, tương đương với mức tăng 2,08% trong 24 giờ qua.

Quy đổi theo tỷ giá hiện hành tại Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương với mức 104,377 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Quy đổi theo tỷ giá USD trên thị trường tự do (26.393 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 106,5 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí).

Thị trường trong nước

Tại thời điểm 05:30 sáng 25/4, giá vàng miếng SJC tại các công ty kinh doanh nổi tiếng như SJC, PNJ, DOJI, Bảo Tín Minh Châu, niêm yết tại 118,5 - 121 triệu đồng/lượng.

Với mức giá trên, vàng miếng SJC đang cao hơn giá vàng quốc tế là 14,5 triệu đồng/lượng.

Đối với vàng nhẫn, hiện giá vàng nhẫn tại các thương hiệu vẫn giữ mốc giá của kết phiên hôm qua (24/4), cụ thể, vàng nhẫn SJC 9999 được niêm yết tại mốc 113,5 triệu đồng/lượng mua vào và 116,5 triệu đồng/lượng bán ra.

DOJI tại thị trường Hà Nội và TP Hồ Chí Minh niêm yết tại mức 113,5 triệu đồng/lượng mua vào và 116,3 triệu đồng/lượng bán ra.

Giá vàng nhẫn thương hiệu PNJ niêm yết ở mức 113,5 triệu đồng/lượng mua vào và 116,8 triệu đồng/lượng bán ra.

Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng nhẫn tròn trơn ở mức 117 triệu đồng/lượng mua vào và 120 triệu đồng/lượng bán ra.

Phú Quý SJC đang thu mua vàng nhẫn ở mức 115 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 118 triệu đồng/lượng.

Dự báo

Giá vàng thế giới tăng nhẹ trở lại sau khi giảm mạnh xuống dưới mốc 3300 USD/Ounce trong phiên trước đó, nhờ hoạt động mua vào tận dụng thời điểm giá thấp và chỉ số PMI giảm mạnh. Thị trường vàng hôm nay tiếp tục chú ý đến những diễn biến mới trong quan hệ thương mại Mỹ-Trung.

Về mặt kỹ thuật, phe mua (bulls) vẫn đang nắm lợi thế trong ngắn hạn. Mục tiêu tiếp theo của họ là đẩy giá vượt qua ngưỡng kháng cự mạnh ở mức kỷ lục 3.509,9 USD/ounce. Trong khi đó, phe bán (bears) đang hy vọng đẩy giá xuống dưới vùng hỗ trợ quan trọng 3.200 USD.

Các mức kháng cự gần nhất hiện nằm ở 3.377 USD và 3.400 USD, trong khi hỗ trợ gần ở 3.325 USD và 3.300 USD. Theo đánh giá của chuyên gia Wyckoff, thị trường vàng hiện đang ở trạng thái tích cực với điểm số 7,5/10.

Giới phân tích cho rằng về dài hạn của vàng vẫn tích cực. Những yếu tố như lo ngại suy thoái kinh tế, lạm phát kéo dài và các bất ổn chính trị toàn cầu đang tạo nền tảng vững chắc cho vàng. Các ngân hàng lớn như Goldman Sachs, Citi và JP Morgan đều có cái nhìn lạc quan.

Goldman Sachs dự báo giá vàng trung bình trong năm 2025 sẽ đạt 2.900 USD/ounce. Citi cho rằng mức 3.000 USD có thể đạt được trong vòng sáu tháng tới. Riêng JP Morgan thậm chí dự đoán vàng có thể vượt 4.000 USD/ounce vào giữa năm 2026.

Một yếu tố quan trọng khác hỗ trợ giá vàng tăng là kỳ vọng lãi suất sẽ giảm trong thời gian tới. Cả Mỹ và Trung Quốc đều được cho là sẽ cắt giảm lãi suất để kích thích kinh tế, và đây là điều có lợi cho vàng bởi khi lãi suất thấp, nhà đầu tư có xu hướng chọn vàng do không phải hy sinh khoản lãi từ các tài sản khác.

Ngoài ra, nhu cầu mua vàng từ các ngân hàng trung ương cũng là điểm tựa quan trọng. Trong năm 2025, nhiều quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục tích trữ vàng nhằm giảm phụ thuộc vào đồng USD và đối phó với các cú sốc kinh tế. Điều này tạo ra một lực đỡ ổn định, giúp vàng khó sụt giảm sâu ngay cả khi có điều chỉnh ngắn hạn.

Dù vậy, không thể bỏ qua những rủi ro có thể làm chậm đà tăng của vàng. Nếu nền kinh tế toàn cầu phục hồi nhanh hơn dự kiến, nhà đầu tư có thể quay lại cổ phiếu và giảm nhu cầu đối với vàng. Hoặc nếu lãi suất bất ngờ tăng trở lại, vàng sẽ mất lợi thế cạnh tranh./.

Thu Dung (tổng hợp)

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 22/3 đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến hơn 5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giá lùi về quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 21/3 đảo chiều tăng trở lại tại hầu hết doanh nghiệp lớn. Mặt bằng giá được điều chỉnh tăng từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/3 giảm mạnh tại hầu hết doanh nghiệp, với mức điều chỉnh lên tới 7,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về quanh 172 - 175 triệu đồng/lượng.
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

(TBTCO) - Vàng và bạc cùng tham gia đợt bán tháo trên diện rộng vào ngày 19/3, với giá giảm lần lượt khoảng 5% và 10%, do lo ngại về cuộc chiến tại Iran và lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu.
WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) vừa công bố sáng kiến “Vàng như một dịch vụ” (Gold-as-a-Service) nhằm xây dựng hạ tầng mới, mở ra giai đoạn phát triển tiếp theo cho vàng kỹ thuật số. Mô hình này được kỳ vọng định hình lại cách phát hành, vận hành các sản phẩm, tăng tính liên thông, thanh khoản; qua đó, vàng kỹ thuật số có thể dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay.
Giá vàng hôm nay ngày 19/3:  Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 19/3: Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Sáng ngày 19/3, giá vàng nhẫn được niêm yết quanh vùng 178,8 - 182,9 triệu đồng/lượng, ghi nhận điều chỉnh giảm tại một số doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 17/3 ghi nhận tăng nhẹ khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt nâng giá vàng miếng và vàng nhẫn thêm khoảng 500.000 đồng/lượng.
Xem thêm
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80