Thị trường tiền tệ tuần từ 2 - 6/1:

“Gió đảo chiều” trên thị trường tiền tệ, giá vàng trở lại nhịp bình ổn

Chí Tín
(TBTCO) - Động thái đáng chú ý nhất tuần qua trên thị trường tiền tệ là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố các thông tin thị trường tiền tệ với cục diện về tín dụng thay đổi đáng kể so với phần lớn thời gian năm 2023. Trong khi đó, giá vàng trong tuần qua đã lặng sóng và trở lại trạng thái khá bình ổn.
aa

Tăng trưởng tín dụng bùng nổ

Một trong những thông điệp đáng chú ý nhất được NHNN công bố tuần qua là việc tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm 2023 đạt tới 13,5%.

Trước đó, cũng theo số liệu của NHNN tính đến 22/11, tăng trưởng tín dụng mới chỉ đạt 8,21% và theo đó tín dụng đã tăng thêm tới gần 5,3% chỉ trong vòng hơn 1 tháng. Diễn biến bùng nổ của tăng trưởng tín dụng của tháng 12 “đảo chiều” hoàn toàn so với bối cảnh chung của gần 11 tháng trước đó, khi tín dụng luôn trong trạng thái tăng trưởng chậm so với kỳ vọng.

NHNN cho biết, đã tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về cho vay, đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt hồ sơ vay, đẩy mạnh kết nối ngân hàng - doanh nghiệp trên toàn quốc; gia tăng các chương trình, sản phẩm tín dụng đặc thù, ưu đãi..., tạo điều kiện thuận lợi hơn để người dân, doanh nghiệp tiếp cận tín dụng ngân hàng.

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, việc điều hành chính sách tiền tệ đã góp phần ổn định được kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát khoảng 3,25%.

Đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm 2024

Ngay đầu năm 2024, NHNN đã đưa chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm và phân bổ hạn mức tăng trưởng tín dụng (room) cho các ngân hàng thương mại.

“Gió đảo chiều” trên thị trường tiền tệ, giá vàng trở lại nhịp bình ổn
Thông tin về tăng trưởng tín dụng vừa được NHNN công bố tuần qua ghi nhận dòng tiền đang bơm mạnh vào nền kinh tế. Ảnh: T.L
Quan tâm các yếu tố phát triển ổn định, thị trường vàng “nổi sóng” Giá vàng tăng giảm chóng mặt, sẽ xem xét lại các quy định về quản lý vàng

NHNN cho biết, định hướng tăng trưởng tín dụng năm 2024 có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Cơ quan điều hành thị trường tiền tệ cho biết, đã tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu) theo chủ trương của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Đặt mục tiêu nợ xấu năm 2024 dưới 3%

Một trong những công việc được ngành ngân hàng tập trung thực hiện là phương án xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém; song song với đó chỉ đạo các tổ chức tín dụng đẩy mạnh công tác xử lý, thu hồi nợ xấu; phấn đấu năm 2024 tỷ lệ nợ xấu nội bảng (không bao gồm các ngân hàng thương mại yếu kém) dưới 3%.

Ngoài ra, các ngân hàng tiếp tục thực hiện tiết giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế.

Các ngân hàng cũng đặt mục tiêu đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ được giao của ngành ngân hàng tại các Chương trình mục tiêu quốc gia. Hoạt động ngân hàng hướng tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, tháo gỡ và thúc đẩy mở rộng tín dụng tiêu dùng đi đôi với an toàn, lành mạnh, góp phần hạn chế “tín dụng đen”.

Trong năm 2024, NHNN tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật ngân hàng nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng; phối hợp với các cơ quan của Quốc hội hoàn thiện hồ sơ dự án Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi) trình Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; xây dựng, trình ban hành/ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết sau khi Luật được ban hành.

Tỷ giá ổn định

Tỷ giá tuần qua diễn ra khá ổn định. Sau đợt nghỉ lễ đầu năm dương lịch, Vietcombank niêm yết tỷ giá hôm 2/1 ở mức 24.495 đồng/USD. Sau đó, tỷ giá niêm yết tại Vietcombank có một số phiên tăng nhẹ trước khi quay đầu giảm trở lại vào cuối tuần về mức 24.510 đồng/USD.

Cung ngoại tệ trong giai đoạn vừa qua vẫn khá ổn định, Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2023 giảm 0,56% so với tháng trước; tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2023 tăng 1,86%. Trong khi đó, NHNN cũng cho biết trong năm 2023 đã mua được ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, giữ ổn định được thị trường tiền tệ, ngoại hối. Theo đó, lạm phát ổn định, dự trữ ngoại hối gia tăng là những yếu tố góp phần để Fitch nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam.

Tỷ giá USD ngày 5/11: Bất ngờ rớt mạnh 19 đồng mỗi USD
NHNN đã thực hiện tăng mua dự trữ ngoại hối trong năm 2023. Ảnh: T.L

Vàng qua thời sóng gió

Giá vàng sau giai đoạn nổi sóng cuối năm 2023 đã trở lại trạng thái bình ổn, diễn biến thị trường tuy đôi lúc cũng có trồi sụt, nhưng không “nhảy múa” như trong giai đoạn trước.

Hiện nay, các công ty vàng đã đưa khoảng cách chênh lệch mức giá mua vào/bán ra đối với giá vàng miếng SJC 9999 lên tới 3 triệu đồng mỗi lượng. Theo đó, giá vàng miếng trong suốt tuần qua thường dao động quanh mức khoảng 72 - 72,5 triệu đồng/lượng mua vào và khoảng 75 - 75,5 triệu đồng/lượng bán ra.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn có chênh lệch mua vào/bán ra ít hơn, với mức chỉ khoảng hơn 1 triệu đồng/lượng. Biến động giá vàng nhẫn SJC 9999 trong tuần qua khoảng trên dưới 62 triệu đồng/lượng mua vào và khoảng trên 63 triệu đồng/lượng bán ra.

Diễn biến giá vàng thế giới tuần qua ghi nhận xu hướng giảm, khởi đầu năm 2024 với mặt bằng giá khoảng trên 2.070 USD/ounce nhưng đến cuối tuần giảm về mức chỉ còn khoảng 2.041 USD/ounce. Giá vàng thế giới giảm một phần do đồng USD đã nhích tăng trở lại chút ít, với chỉ số DXY hiện ở mức khoảng hơn 102 điểm.

Tuy nhiên, thị trường vàng thế giới hiện vẫn có tâm lý kỳ vọng vào khả năng tăng giá khi lãi suất bước vào xu hướng giảm trong năm 2024.

Doanh số thanh toán tăng trưởng mạnh trong năm 2023

NHNN cho biết, các chỉ số thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng khả quan; năm 2023, số lượng giao dịch thanh toán không tiền mặt tăng từ 50,3-99,1%, giá trị tăng từ 5,4-10,8% tùy phương thức thanh toán; các hệ thống thanh toán được vận hành ổn định, thông suốt và an toàn.

Nhiều sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho khách hàng đã được số hóa, trong đó nhiều nghiệp vụ đã số hoá 100% góp phần hỗ trợ khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng, giảm chi phí cho nền kinh tế.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh mức 4.508,5 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt lùi về vùng 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 22/5: Giá vàng trong nước tăng tới 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/5: Giá vàng trong nước tăng tới 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đảo chiều tăng tại nhiều thương hiệu lớn, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 900.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/5: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/5: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa vàng miếng và vàng nhẫn phổ biến lùi về vùng 158,5 - 162 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới đảo chiều tăng lên quanh mốc 4.545 USD/ounce.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/5: Giá vàng thế giới đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/5: Giá vàng thế giới đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng ngày 19/5 đảo chiều tăng trở lại lên quanh mức 4.574 USD/ounce. Bên canh đó, giá vàng trong nước cũng tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
Kim TT/AVPL 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 14,900 ▲100K 15,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 14,850 ▲100K 15,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▲50K 16,050 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▲50K 16,000 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▲50K 15,980 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▲500K 162,000 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▲50K 16,200 ▲50K
NL 99.90 14,450 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500 ▲100K
Trang sức 99.9 15,390 ▲50K 16,090 ▲50K
Trang sức 99.99 15,400 ▲50K 16,100 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼1426K 16,202 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼1426K 16,203 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 ▲1427K 1,615 ▲1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 ▲1427K 1,616 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 ▲1409K 160 ▼1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 ▲495K 158,416 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 ▲375K 120,162 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 ▲340K 108,961 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 ▼79669K 9,776 ▼87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 ▲291K 93,439 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 ▲209K 66,877 ▲209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1426K 162 ▼1453K
Cập nhật: 25/05/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18355 18630 19209
CAD 18557 18834 19452
CHF 33054 33440 34089
CNY 0 3846 3939
EUR 30055 30329 31354
GBP 34741 35134 36068
HKD 0 3233 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15172 15763
SGD 20101 20384 20907
THB 728 791 844
USD (1,2) 26094 0 0
USD (5,10,20) 26136 0 0
USD (50,100) 26164 26179 26392
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,162 26,162 26,392
USD(1-2-5) 25,116 - -
USD(10-20) 25,116 - -
EUR 30,258 30,282 31,548
JPY 161.91 162.2 171.03
GBP 35,011 35,106 36,118
AUD 18,599 18,666 19,260
CAD 18,802 18,862 19,445
CHF 33,388 33,492 34,290
SGD 20,282 20,345 21,018
CNY - 3,817 3,939
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.14 16.83 18.21
THB 776.91 786.51 837.21
NZD 15,199 15,340 15,710
SEK - 2,795 2,878
DKK - 4,049 4,168
NOK - 2,807 2,890
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,250.86 - 7,024.9
TWD 759.91 - 915.27
SAR - 6,925.89 7,253.02
KWD - 83,856 88,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,142 26,162 26,392
EUR 30,104 30,225 31,404
GBP 34,903 35,043 36,051
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,105 33,238 34,177
JPY 161.98 162.63 169.97
AUD 18,521 18,595 19,184
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 793 796 831
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,235 15,769
KRW 16.74 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26170 26170 26392
AUD 18550 18650 19575
CAD 18757 18857 19872
CHF 33304 33334 34926
CNY 3826.4 3851.4 3986.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30239 30269 31996
GBP 35053 35103 36856
HKD 0 3355 0
JPY 162.51 163.01 173.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15296 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20269 20399 21129
THB 0 757.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,392
USD20 26,185 26,235 26,392
USD1 23,880 26,235 26,392
AUD 18,594 18,694 19,817
EUR 30,388 30,388 31,825
CAD 18,701 18,801 20,124
SGD 20,348 20,498 21,077
JPY 162.98 164.48 169.16
GBP 34,945 35,295 36,189
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,792 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/05/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80