"Giỏ" đầu tư của ngành bảo hiểm đang tái cấu trúc mạnh mẽ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mỗi năm, các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế hàng trăm nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm. Sau một thập kỷ, quy mô dòng vốn này vượt mốc 850.000 tỷ đồng, với sự tái cấu trúc mạnh mẽ trong "giỏ" danh mục đầu tư, từ đó, tạo lực đẩy phát triển thị trường vốn trung và dài hạn.
aa
"Giỏ" đầu tư của ngành bảo hiểm đang tái cấu trúc mạnh mẽ
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp Đồ họa: Anh Tú

Theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), năm 2015, tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế là 160.466 tỷ đồng, tăng 26,29% so với 2014. Sau một thập kỷ, tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế từ khối doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt khoảng 850.075 tỷ đồng vào năm 2024, cao gấp 5,3 lần so với năm 2015, với tốc độ tăng bình quân khoảng 20%/năm.

Dẫn vốn cho nền kinh tế, quy mô vượt mốc 850.000 tỷ đồng

Tính đến cuối năm 2024, thị trường bảo hiểm Việt Nam có tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm/GDP khoảng 2,4%, thấp hơn mức trung bình của khu vực ASEAN (3,35%), châu Á (5,37%) và toàn cầu (6,3%). Điều này mở ra dư địa lớn cho ngành bảo hiểm trong việc cung cấp các sản phẩm phòng ngừa rủi ro cho doanh nghiệp và nền kinh tế, từ đó, tạo ra nguồn phí bảo hiểm lớn hơn và đẩy lượng vốn lớn đầu tư trở lại nền kinh tế.

Tiêu chí an toàn luôn đặt lên hàng đầu

"Khi thực hiện đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm luôn đặt tiêu chí an toàn lên hàng đầu, sau đó mới đến hiệu quả và khả năng thanh khoản. Các trái phiếu được lựa chọn đều phải đảm bảo có thể giao dịch được trên thị trường, có thể bán lại hoặc sử dụng để cầm cố tại chính ngân hàng phát hành hoặc các tổ chức tài chính khác" - ông Nguyễn Anh Tuấn - Chủ tịch Hội đồng Quản trị VINARE bày tỏ.

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu cho biết, tận dụng nguồn lực từ các công ty bảo hiểm là cơ hội phát triển thị trường vốn, bởi các công ty bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ có nguồn phí bảo hiểm thu từ khách hàng đều đặn, có thể kéo dài từ vài năm đến vài chục năm. Chính dòng tiền ổn định, đều đặn này giúp hình thành nguồn vốn lớn, mang tính chất trung dài hạn và tạo nền tảng để các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào những danh mục tài chính dài hạn, tạo nên một kênh dẫn vốn bền vững cho nền kinh tế.

Danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm rất đa dạng. Theo quan sát, dòng vốn từ các doanh nghiệp bảo hiểm đang có sự dịch chuyển rõ nét sau một thập kỷ, cho thấy nhu cầu tái định vị vai trò chiến lược của nguồn lực tài chính này trong nền kinh tế.

Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng 8% năm 2025 và nhu cầu huy động vốn ngày càng gia tăng càng làm nổi bật vai trò cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Sau một thập kỷ, tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế từ khối doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ tăng gấp 5,3 lần về quy mô, mà còn có sự chuyển dịch đáng kể vào các "giỏ" tài sản khác nhau.

Về tỷ trọng phân bổ các kênh đầu tư toàn ngành, dòng vốn không còn “nằm im” trong trái phiếu chính phủ. Theo đó, năm 2015, các công ty bảo hiểm từng tập trung phần lớn vốn vào trái phiếu chính phủ với tỷ trọng 57%, nhưng gần đây giảm còn 36%. Thay vào đó, dòng vốn được chuyển hướng sang các kênh có suất sinh lợi cao hơn, nổi bật là tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, tăng mạnh từ 30% lên trên 40%, trở thành loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục đầu tư của toàn ngành.

Một xu hướng đáng chú ý khác là sự gia tăng nhanh chóng tỷ trọng đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp (gồm cả có và không có bảo lãnh) cùng với cổ phiếu. Tỷ trọng đầu tư vào nhóm tài sản này tăng từ 6% năm 2015 lên 17%.

Đáng lưu ý, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thể hiện sự dịch chuyển mạnh mẽ hơn trong cơ cấu danh mục đầu tư so với khối phi nhân thọ, với xu hướng rõ nét là ưu tiên nhiều hơn cho các tài sản có khả năng mang lại suất sinh lợi cao. Ở chiều ngược lại, khối bảo hiểm phi nhân thọ, vốn có đặc thù đầu tư ngắn hạn và gắn chặt với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường, thường phản ứng nhanh với các biến động kinh tế. Do đó, các doanh nghiệp trong nhóm này tiếp tục duy trì tỷ trọng lớn tài sản vào tiền gửi tại tổ chức tín dụng.

Đầu tư tài chính trở thành trụ cột lợi nhuận

Không chỉ dẫn vốn trở lại nền kinh tế, hoạt động tài chính hiện đóng vai trò then chốt, trở thành nguồn thu chủ lực trong cơ cấu lợi nhuận của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư tại các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cho thấy, tổng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính trong năm 2024 gần 14.000 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2015; đồng thời, cao hơn 4,5 lần lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Anh Tuấn - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) cho biết, thị trường bảo hiểm hiện rất cạnh tranh khiến mức phí bảo hiểm duy trì ở mức thấp, điều này kéo theo lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm chưa cao.

Vì vậy, các doanh nghiệp linh hoạt chuyển hướng, đẩy mạnh khai thác cơ hội sinh lời từ hoạt động đầu tư tài chính, góp phần đa dạng hóa nguồn thu và nâng cao hiệu quả hoạt động tổng thể.

Bên cạnh yếu tố cạnh tranh, thị trường bảo hiểm trong nước cũng đang chịu tác động từ chi phí bồi thường tăng, biến động kinh tế vĩ mô và yêu cầu khắt khe hơn về quản trị rủi ro. Trước bối cảnh đó, việc kết hợp hài hòa giữa hoạt động kinh doanh bảo hiểm cốt lõi và đầu tư tài chính hiệu quả là định hướng chiến lược mà VINARE theo đuổi nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.

Tìm cơ hội từ nhiều kênh sinh lời bền vững

Theo Chủ tịch Nguyễn Anh Tuấn, tại VINARE, Tổng công ty không còn nắm giữ trái phiếu Chính phủ và chuyển dịch sang đầu tư sang trái phiếu doanh nghiệp và tuân thủ các giới hạn chặt chẽ trong quy định. Trong đó, trọng tâm đầu tư trái phiếu do các ngân hàng phát hành để huy động vốn cấp hai, với xếp hạng tín nhiệm quốc tế từ các tổ chức uy tín như Moody’s, S&P... Đây là kênh đầu tư có độ an toàn cao, lãi suất ổn định, có thời điểm lên tới 7%/năm.

“Chúng tôi thiết lập hệ thống kiểm soát rủi ro chặt chẽ trong hoạt động đầu tư, bao gồm việc định kỳ đánh giá lại danh mục, theo dõi sát tình hình tài chính của tổ chức phát hành; đồng thời, đảm bảo tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật và các giới hạn đầu tư theo quy định của Bộ Tài chính” - ông Tuấn nêu rõ.

TS. Nguyễn Trí Hiếu cũng gợi mở thêm vai trò của các quỹ hưu trí tự nguyện trong việc phát triển thị trường bảo hiểm và là lực đỡ quan trọng cho thị trường vốn. Tại Mỹ, nguồn vốn dài hạn phần lớn đến từ các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm, với chương trình 401(k) rất phổ biến và hoạt động hiệu quả, với tỷ trọng cao đầu tư vào thị trường chứng khoán và trái phiếu. Vốn trong tài khoản 401(k) được tích lũy trong thời gian dài, ít bị rút ra giữa chừng nên có tính ổn định cao, giúp dẫn vốn từ người lao động, các cá nhân vào khu vực doanh nghiệp và chính phủ.

"Việt Nam cũng có tiềm năng phát triển quỹ hưu trí tự nguyện từ các công ty bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ, nhằm phát triển thị trường vốn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng" - ông Hiếu đánh giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 ▼30K 14,610 ▼30K
Trang sức 99.99 13,920 ▼30K 14,620 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 ▼3K 14,822 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 ▼3K 14,823 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,442 ▼3K 1,477 ▲1329K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,442 ▼3K 1,478 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,417 ▲1275K 1,457 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,257 ▼297K 144,257 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,636 ▼225K 109,436 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,436 ▲80472K 99,236 ▲89292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,236 ▼183K 89,036 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,302 ▼175K 85,102 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,113 ▼125K 60,913 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cập nhật: 16/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17838 18112 18684
CAD 18156 18432 19047
CHF 31927 32308 32949
CNY 0 3839 3932
EUR 29478 29699 30776
GBP 34729 35121 36051
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15060 15647
SGD 19838 20120 20690
THB 698 761 814
USD (1,2) 25994 0 0
USD (5,10,20) 26035 0 0
USD (50,100) 26064 26078 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,609 29,633 31,047
JPY 157.58 157.86 167.38
GBP 34,901 34,995 36,195
AUD 18,031 18,096 18,779
CAD 18,348 18,407 19,086
CHF 32,212 32,312 33,264
SGD 19,948 20,010 20,797
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.27 16.97 18.46
THB 745.19 754.39 807.86
NZD 15,005 15,144 15,593
SEK - 2,690 2,785
DKK - 3,961 4,100
NOK - 2,671 2,766
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,029.63 - 6,804.78
TWD 736.81 - 892.54
SAR - 6,873.64 7,239.79
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26080 26080 26440
AUD 18008 18108 19031
CAD 18334 18434 19449
CHF 32160 32190 33773
CNY 3818.2 3843.2 3978.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29649 29679 31404
GBP 35004 35054 36822
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15131 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 725.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,089 26,139 26,450
USD20 26,089 26,139 26,450
USD1 26,089 26,139 26,450
AUD 18,055 18,155 19,273
EUR 29,445 29,545 31,209
CAD 18,284 18,384 19,692
SGD 20,072 20,222 20,776
JPY 158.95 160.45 165.99
GBP 34,913 35,063 36,119
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80