"Giỏ" đầu tư của ngành bảo hiểm đang tái cấu trúc mạnh mẽ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mỗi năm, các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế hàng trăm nghìn tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm. Sau một thập kỷ, quy mô dòng vốn này vượt mốc 850.000 tỷ đồng, với sự tái cấu trúc mạnh mẽ trong "giỏ" danh mục đầu tư, từ đó, tạo lực đẩy phát triển thị trường vốn trung và dài hạn.
aa
"Giỏ" đầu tư của ngành bảo hiểm đang tái cấu trúc mạnh mẽ
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp Đồ họa: Anh Tú

Theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), năm 2015, tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế là 160.466 tỷ đồng, tăng 26,29% so với 2014. Sau một thập kỷ, tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế từ khối doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt khoảng 850.075 tỷ đồng vào năm 2024, cao gấp 5,3 lần so với năm 2015, với tốc độ tăng bình quân khoảng 20%/năm.

Dẫn vốn cho nền kinh tế, quy mô vượt mốc 850.000 tỷ đồng

Tính đến cuối năm 2024, thị trường bảo hiểm Việt Nam có tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm/GDP khoảng 2,4%, thấp hơn mức trung bình của khu vực ASEAN (3,35%), châu Á (5,37%) và toàn cầu (6,3%). Điều này mở ra dư địa lớn cho ngành bảo hiểm trong việc cung cấp các sản phẩm phòng ngừa rủi ro cho doanh nghiệp và nền kinh tế, từ đó, tạo ra nguồn phí bảo hiểm lớn hơn và đẩy lượng vốn lớn đầu tư trở lại nền kinh tế.

Tiêu chí an toàn luôn đặt lên hàng đầu

"Khi thực hiện đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm luôn đặt tiêu chí an toàn lên hàng đầu, sau đó mới đến hiệu quả và khả năng thanh khoản. Các trái phiếu được lựa chọn đều phải đảm bảo có thể giao dịch được trên thị trường, có thể bán lại hoặc sử dụng để cầm cố tại chính ngân hàng phát hành hoặc các tổ chức tài chính khác" - ông Nguyễn Anh Tuấn - Chủ tịch Hội đồng Quản trị VINARE bày tỏ.

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu cho biết, tận dụng nguồn lực từ các công ty bảo hiểm là cơ hội phát triển thị trường vốn, bởi các công ty bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ có nguồn phí bảo hiểm thu từ khách hàng đều đặn, có thể kéo dài từ vài năm đến vài chục năm. Chính dòng tiền ổn định, đều đặn này giúp hình thành nguồn vốn lớn, mang tính chất trung dài hạn và tạo nền tảng để các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào những danh mục tài chính dài hạn, tạo nên một kênh dẫn vốn bền vững cho nền kinh tế.

Danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm rất đa dạng. Theo quan sát, dòng vốn từ các doanh nghiệp bảo hiểm đang có sự dịch chuyển rõ nét sau một thập kỷ, cho thấy nhu cầu tái định vị vai trò chiến lược của nguồn lực tài chính này trong nền kinh tế.

Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng 8% năm 2025 và nhu cầu huy động vốn ngày càng gia tăng càng làm nổi bật vai trò cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Sau một thập kỷ, tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế từ khối doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ tăng gấp 5,3 lần về quy mô, mà còn có sự chuyển dịch đáng kể vào các "giỏ" tài sản khác nhau.

Về tỷ trọng phân bổ các kênh đầu tư toàn ngành, dòng vốn không còn “nằm im” trong trái phiếu chính phủ. Theo đó, năm 2015, các công ty bảo hiểm từng tập trung phần lớn vốn vào trái phiếu chính phủ với tỷ trọng 57%, nhưng gần đây giảm còn 36%. Thay vào đó, dòng vốn được chuyển hướng sang các kênh có suất sinh lợi cao hơn, nổi bật là tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, tăng mạnh từ 30% lên trên 40%, trở thành loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục đầu tư của toàn ngành.

Một xu hướng đáng chú ý khác là sự gia tăng nhanh chóng tỷ trọng đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp (gồm cả có và không có bảo lãnh) cùng với cổ phiếu. Tỷ trọng đầu tư vào nhóm tài sản này tăng từ 6% năm 2015 lên 17%.

Đáng lưu ý, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thể hiện sự dịch chuyển mạnh mẽ hơn trong cơ cấu danh mục đầu tư so với khối phi nhân thọ, với xu hướng rõ nét là ưu tiên nhiều hơn cho các tài sản có khả năng mang lại suất sinh lợi cao. Ở chiều ngược lại, khối bảo hiểm phi nhân thọ, vốn có đặc thù đầu tư ngắn hạn và gắn chặt với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường, thường phản ứng nhanh với các biến động kinh tế. Do đó, các doanh nghiệp trong nhóm này tiếp tục duy trì tỷ trọng lớn tài sản vào tiền gửi tại tổ chức tín dụng.

Đầu tư tài chính trở thành trụ cột lợi nhuận

Không chỉ dẫn vốn trở lại nền kinh tế, hoạt động tài chính hiện đóng vai trò then chốt, trở thành nguồn thu chủ lực trong cơ cấu lợi nhuận của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư tại các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết cho thấy, tổng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính trong năm 2024 gần 14.000 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2015; đồng thời, cao hơn 4,5 lần lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Anh Tuấn - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) cho biết, thị trường bảo hiểm hiện rất cạnh tranh khiến mức phí bảo hiểm duy trì ở mức thấp, điều này kéo theo lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm chưa cao.

Vì vậy, các doanh nghiệp linh hoạt chuyển hướng, đẩy mạnh khai thác cơ hội sinh lời từ hoạt động đầu tư tài chính, góp phần đa dạng hóa nguồn thu và nâng cao hiệu quả hoạt động tổng thể.

Bên cạnh yếu tố cạnh tranh, thị trường bảo hiểm trong nước cũng đang chịu tác động từ chi phí bồi thường tăng, biến động kinh tế vĩ mô và yêu cầu khắt khe hơn về quản trị rủi ro. Trước bối cảnh đó, việc kết hợp hài hòa giữa hoạt động kinh doanh bảo hiểm cốt lõi và đầu tư tài chính hiệu quả là định hướng chiến lược mà VINARE theo đuổi nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.

Tìm cơ hội từ nhiều kênh sinh lời bền vững

Theo Chủ tịch Nguyễn Anh Tuấn, tại VINARE, Tổng công ty không còn nắm giữ trái phiếu Chính phủ và chuyển dịch sang đầu tư sang trái phiếu doanh nghiệp và tuân thủ các giới hạn chặt chẽ trong quy định. Trong đó, trọng tâm đầu tư trái phiếu do các ngân hàng phát hành để huy động vốn cấp hai, với xếp hạng tín nhiệm quốc tế từ các tổ chức uy tín như Moody’s, S&P... Đây là kênh đầu tư có độ an toàn cao, lãi suất ổn định, có thời điểm lên tới 7%/năm.

“Chúng tôi thiết lập hệ thống kiểm soát rủi ro chặt chẽ trong hoạt động đầu tư, bao gồm việc định kỳ đánh giá lại danh mục, theo dõi sát tình hình tài chính của tổ chức phát hành; đồng thời, đảm bảo tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật và các giới hạn đầu tư theo quy định của Bộ Tài chính” - ông Tuấn nêu rõ.

TS. Nguyễn Trí Hiếu cũng gợi mở thêm vai trò của các quỹ hưu trí tự nguyện trong việc phát triển thị trường bảo hiểm và là lực đỡ quan trọng cho thị trường vốn. Tại Mỹ, nguồn vốn dài hạn phần lớn đến từ các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm, với chương trình 401(k) rất phổ biến và hoạt động hiệu quả, với tỷ trọng cao đầu tư vào thị trường chứng khoán và trái phiếu. Vốn trong tài khoản 401(k) được tích lũy trong thời gian dài, ít bị rút ra giữa chừng nên có tính ổn định cao, giúp dẫn vốn từ người lao động, các cá nhân vào khu vực doanh nghiệp và chính phủ.

"Việt Nam cũng có tiềm năng phát triển quỹ hưu trí tự nguyện từ các công ty bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ, nhằm phát triển thị trường vốn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng" - ông Hiếu đánh giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80