Hạn chế vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm

Hồng Chi
(TBTCVN) - Năm 2015, công tác thanh tra, kiểm tra các DN bảo hiểm sẽ tiếp tục được tăng cường.
aa

Năm 2014, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp tái cấu trúc DN bảo hiểm, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính đã tăng cường công tác quản lý, giám sát, thanh kiểm tra DN bảo hiểm tập trung vào việc phát hiện, ngăn ngừa và hạn chế các rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN. Năm 2015, công tác thanh tra, kiểm tra các DN bảo hiểm sẽ tiếp tục được tăng cường.

thanh tra doanh nghiệp bảo hiểm
Sẽ tiếp tục kiểm tra, rà soát việc bán bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới và bảo hiểm xe cơ giới tự nguyện tại các DN bảo hiểm. Ảnh: T.L

Kịp thời phát hiện các sai phạm

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm Bộ Tài chính cho biết, theo kế hoạch thanh tra đã được Bộ Tài chính phê duyệt, năm 2014 Cục đã hoàn thành tranh tra 4 DN bảo hiểm là Bảo hiểm Marsh, Bảo hiểm Hàng không, Bảo hiểm PVI, Bảo hiểm Cathay life.

Ngoài ra, Cục đã hoàn thành kiểm tra theo kế hoạch 6 DN bảo hiểm nhân thọ gồm: Bảo Việt Nhân thọ, Prudential Việt Nam, Manulife Việt Nam, Dai-ichi Life Việt Nam, AIA Việt Nam, Hanwha life Việt Nam; kiểm tra 3 DN bảo hiểm phi nhân thọ là Bảo hiểm Samsung Vina, Bảo hiểm Toàn Cầu, Bảo hiểm Liberty; kiểm tra 5 DN môi giới bảo hiểm là Công ty: Toyota Tsusho, Aon Việt Nam, Jardine Lloyd Thompson, Thái Bình Dương, Cimeico và kiểm tra 10 văn phòng đại diện công ty bảo hiểm nước ngoài.

Đồng thời, Cục đã tiến hành kiểm tra chuyên đề về bảo hiểm xe cơ giới và hoa hồng bảo hiểm đối với 4 DN bảo hiểm gồm: Bảo hiểm AAA, Bảo hiểm Viễn Đông, Bảo hiểm Xuân Thành, Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội; kiểm tra việc bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng.

Qua thanh tra, kiểm tra, Cục đã kịp thời phát hiện các sai phạm và kiến nghị xử lý sau thanh tra nhằm giữ vững sự phát triển lành mạnh của thị trường. Bên cạnh đó, phát hiện những bất cập trong cơ chế chính sách để sửa đổi, bổ sung, từ đó, tạo môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, bình đẳng giữa các DN bảo hiểm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người tham gia bảo hiểm, tạo điều kiện để thị trường phát triển lành mạnh, an toàn và hiệu quả.

So với những năm trước thì năm 2014, số lượng, chất lượng các cuộc thanh kiểm tra đã tăng lên rõ rệt. Nếu như giai đoạn 2005 - 2009, chỉ kiểm tra 3 - 4 DN/năm trong lĩnh vực phi nhân thọ thì đến năm 2014, số cuộc thanh kiểm tra tăng nhiều lần ở hầu hết mọi lĩnh vực quản lý như: Lĩnh vực nhân thọ, phi nhân thọ và môi giới bảo hiểm...

Cũng theo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, mặc dù đã đạt được kết quả tích cực, tuy nhiên công tác thanh kiểm tra năm 2014 vẫn còn gặp một số khó khăn, bởi bảo hiểm là lĩnh vực mới trong khi thị trường thời gian qua phát triển tương đối “nóng”, công tác quản trị điều hành của một số DN bảo hiểm chưa theo kịp với sự phát triển. Bên cạnh đó, xuất hiện một số hành vi vi phạm mới trong lĩnh vực bảo hiểm ngày càng tinh vi..., làm cho công tác thanh tra, kiểm tra gặp khó khăn hơn.

Tăng cường thanh, kiểm tra doanh nghiệp bảo hiểm

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm đặt ra trong năm 2015 là tăng cường công tác thanh kiểm tra, giám sát DN bảo hiểm, đặc biệt, tập trung vào các nội dung để phục vụ cho mục tiêu tái cấu trúc DN bảo hiểm đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Theo đó, trong năm 2015, Cục sẽ thực hiện thanh kiểm tra hoạt động của các DN bảo hiểm, DN môi giới bảo hiểm; kiểm tra các văn phòng đại diện công ty bảo hiểm nước ngoài theo kế hoạch Bộ Tài chính phê duyệt. Đặc biệt, dự kiến sẽ nâng số lượng thanh tra từ 4 cuộc năm 2014 lên 7 cuộc năm 2015. Đồng thời, thực hiện giám sát thường xuyên, tổng hợp phân tích tình hình thị trường bảo hiểm, từ đó đánh giá được tình hình thị trường định kỳ nhằm có phương án quản lý, giám sát phù hợp.

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, để hạn chế tồn tại giúp thị trường phát triển lành mạnh hơn cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về cơ chế chính sách, quản lý giám sát, thanh kiểm tra và xử lý vi phạm. Đặc biệt, các cuộc thanh kiểm tra cần kết hợp giữa thanh kiểm tra toàn diện với đẩy mạnh thanh kiểm tra chuyên đề tập trung vào những nội dung trọng điểm ảnh hưởng đến hoạt động của DN như: bảo đảm khả năng thanh toán, việc duy trì vốn đã góp, về trích lập dự phòng nghiệp vụ, hoạt động đầu tư, hoạt động tái bảo hiểm.

Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, nắm bắt các thông tin, tình hình về các vấn đề liên quan đến thị trường như: Cạnh tranh không lành mạnh, tình hình trục lợi bảo hiểm..., để tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra chấn chỉnh vi phạm; đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ, chú trọng giữa đào tạo trong nước và nước ngoài nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập cao của lĩnh vực bảo hiểm./.

Hồng Chi

Hồng Chi

Đọc thêm

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

Gia Lai: Hơn 690 đơn vị nợ bảo hiểm với số tiền hơn 133 tỷ đồng

(TBTCO) - Tính đến hết tháng 3/2026, tỉnh Gia Lai có 693 công ty, hợp tác xã, hộ kinh doanh…chậm đóng trên 6 tháng các khoản bảo hiểm của hơn 3.000 lao động với số tiền hơn 133 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm đến 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, giá vàng miếng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 900.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi về vùng 167,2 - 169,7 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng xuống 25.100 VND/USD, trong khi USD tự do lùi về quanh 26.600 - 26.650 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY dao động hẹp quanh 98 điểm khi nhà đầu tư thận trọng theo dõi phiên điều trần của ứng viên Chủ tịch Fed Kevin Warsh và các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố có thể định hướng xu hướng USD trong ngắn hạn.
Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nhiều quy định về phòng, chống rửa tiền và quản lý nguồn vàng trong dân gây khó cho doanh nghiệp kinh doanh vàng. Do yêu cầu xác minh thu nhập, nghề nghiệp thiếu khả thi, gần như 100% doanh nghiệp có thể phát sinh vi phạm. Hiệp hội đề xuất chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

(TBTCO) - PGBank đặt mục tiêu bứt phá mạnh năm 2026 với lợi nhuận trước thuế 1.438 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi và tiếp tục theo đuổi kế hoạch nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng dự kiến đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ở mức 31% và tìm “mảnh ghép” từ lĩnh vực chứng khoán nhằm hoàn thiện hệ sinh thái, tạo động lực tăng trưởng mới.
LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa công bố Báo cáo tài chính quý I/2026 ghi nhận những điểm sáng tích cực trong hoạt động kinh doanh cốt lõi với lợi nhuận trước thuế đạt 2.826 tỷ đồng. Bất chấp những thách thức chung của thị trường, LPBank tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tín dụng tốt, đa dạng hóa nguồn thu hiệu quả và đặc biệt ghi dấu ấn bằng chiến lược quản trị rủi ro chủ động, an toàn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 21/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.102 VND/USD, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.630 - 26.670 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lùi nhẹ về 98,09 điểm nhưng vẫn duy trì nền ổn định. Tâm điểm chú ý dồn vào đàm phán Mỹ - Iran cuối tuần, yếu tố có thể định hướng xu hướng thị trường ngắn hạn, dù kỳ vọng tích cực đang chiếm ưu thế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Kim TT/AVPL 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,670 ▼90K 16,970 ▼90K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 ▼90K 16,760 ▼90K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 ▼90K 16,710 ▼90K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 ▼90K 16,690 ▼90K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Hà Nội - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Miền Tây - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 166,700 ▼700K 169,700 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 16,750 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,700 ▼60K 17,000 ▼60K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,190 ▼60K 16,890 ▼60K
Trang sức 99.99 16,200 ▼60K 16,900 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,675 ▼6K 17,002 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,675 ▼6K 17,003 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,673 ▼6K 1,698 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,673 ▼6K 1,699 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,653 ▼6K 1,683 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,134 ▼594K 166,634 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,488 ▼450K 126,388 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,705 ▼408K 114,605 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,923 ▼366K 102,823 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,379 ▼350K 98,279 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,438 ▼250K 70,338 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼6K 170 ▼1536K
Cập nhật: 22/04/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18334 18610 19185
CAD 18746 19024 19640
CHF 33102 33488 34123
CNY 0 3820 3913
EUR 30305 30580 31606
GBP 34803 35196 36126
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15275 15860
SGD 20141 20424 20948
THB 734 797 852
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26144 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,355
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,486 30,510 31,783
JPY 161.26 161.55 170.33
GBP 35,041 35,136 36,141
AUD 18,577 18,644 19,237
CAD 18,968 19,029 19,618
CHF 33,428 33,532 34,318
SGD 20,312 20,375 21,049
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,303 3,313 3,432
KRW 16.47 17.18 18.59
THB 783.51 793.19 843.82
NZD 15,275 15,417 15,779
SEK - 2,834 2,917
DKK - 4,079 4,199
NOK - 2,784 2,865
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.33 - 7,002.05
TWD 757.38 - 912.23
SAR - 6,915.97 7,242.74
KWD - 83,818 88,667
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 30,342 30,464 31,647
GBP 34,932 35,072 36,081
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,126 33,259 34,203
JPY 161.40 162.05 169.35
AUD 18,495 18,569 19,164
SGD 20,315 20,397 20,981
THB 797 800 835
CAD 18,921 18,997 19,574
NZD 15,293 15,827
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26355
AUD 18501 18601 19527
CAD 18923 19023 20037
CHF 33324 33354 34946
CNY 3798.4 3823.4 3958.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30469 30499 32224
GBP 35065 35115 36876
HKD 0 3355 0
JPY 161.75 162.25 172.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15348 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20293 20423 21156
THB 0 762.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16720000 16720000 16970000
SBJ 15000000 15000000 16970000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,355
USD20 26,150 26,200 26,355
USD1 23,845 26,200 26,355
AUD 18,537 18,637 19,762
EUR 30,597 30,597 32,026
CAD 18,867 18,967 20,283
SGD 20,359 20,509 21,088
JPY 162.2 163.7 168.36
GBP 34,935 35,285 36,430
XAU 16,808,000 0 17,062,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/04/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80