Hành trình mới của SHB: Chuyển mình và bứt phá

Hồng Nhung
(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) đang hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để chuyển mình và bứt phá. “Chàng trai 28 tuổi cường tráng” SHB với năng lực tài chính vững mạnh, tràn đầy khát khao và ý chí quyết tâm dẫn đầu, đầy tiềm năng và dư địa tăng trưởng lớn; đang minh chứng cho việc “nói được làm được” thông qua hàng loạt sự kiện đáng chú ý, đặc biệt tác động tích cực tới thị trường và giới đầu tư thời gian qua cũng như giai đoạn tiếp theo.
aa

Chuyển mình với loạt kế hoạch ấn tượng

Ngay sau đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) năm 2021, hàng loạt kế hoạch đáng chú ý được SHB hiện thực hóa, như khẳng định vững chắc lời cam kết sẽ gia tăng lợi ích cho cổ đông, khách hàng và đối tác.

Hành  trình  mới  của  SHB: Chuyển mình và bứt phá

SHB tập trung toàn lực vào phát triển và chuyển đổi số với tầm nhìn tới năm 2030, để trở thành ngân hàng bán lẻ hiện đại và hiệu quả hàng đầu của khu vực.

Cụ thể tháng 8 vừa qua, SHB đã ký thỏa thuận thoái vốn tại SHB Finance cho Krungsri của Thái Lan (thành viên chiến lược thuộc Tập đoàn MUFG - Nhật Bản). Thương vụ này dự kiến mang về khoảng 3.600 tỷ đồng, theo hãng tin quốc tế Nikkei.

Trước khi thương vụ bán vốn SHB Finance mang lại khoản thặng dư lớn, quy mô vốn điều lệ của ngân hàng mẹ cũng đã có thêm bước bổ sung, qua kế hoạch trả cổ tức và hoàn tất vào tháng 6/2021, nâng lên 19.260 tỷ đồng.

Ngay sau đây, SHB tiếp tục đứng trước kế hoạch kép, cùng lúc thực hiện đợt trả cổ tức mới gắn với kế hoạch chào bán cổ phần tăng vốn. Ngân hàng sẽ chi trả cổ tức năm 2020 tỷ lệ 10,5% bằng cổ phiếu và chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ thực hiện quyền 100:28, giá chào bán 12.500 đồng/cổ phiếu; qua đó dự kiến nâng vốn điều lệ lên 26.674 tỷ đồng trong năm nay.

SHB là một trong số ít các ngân hàng đều đặn chi trả cổ tức cho cổ đông qua các năm ngay cả trong giai đoạn phải xử lý tồn đọng đề án nhận sáp nhập Habubank. Tỷ lệ chi trả cổ tức của SHB là 7 - 8%/năm trong giai đoạn từ năm 2013 - 2016 và trên 10%/năm giai đoạn 2017 - 2020. Kế hoạch chi trả cổ tức năm 2021 dự kiến là 15%.

Với khác biệt trên, triển vọng mới mở ra: Một mặt ngân hàng không ngừng gia tăng sức mạnh tài chính, mặt khác quy mô vốn hóa thị trường sẽ tiếp tục lên tầm vị thế cao hơn nữa.

Năng lực tài chính vững mạnh sẽ thúc đẩy SHB số hóa toàn diện và nâng cao công tác quản trị rủi ro, nhằm đảm bảo hoạt động tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng tín dụng, hướng tới Basel III và chuẩn mực quốc tế IFRS 9. Ngân hàng đồng thời triển khai mạnh mẽ việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp số, tự động hóa các quy trình, đầu tư hệ thống công nghệ thông tin và nghiên cứu ứng dụng một loạt các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây…

Mở đầu của một giai đoạn mới mang tên: Bứt phá

Tính chất đặc biệt của loạt kế hoạch trên không chỉ thể hiện ở tần suất các bước đi lớn, diễn ra ngay trong bối cảnh đầy thách thức bởi đại dịch Covid-19, mà quan trọng hơn ở giá trị nâng tầm và khẳng định vị thế mới của SHB.

Năm 2020, SHB khép lại đề án nhận sáp nhập Habubank – thương vụ M&A thành công điển hình của ngành tài chính ngân hàng – với kết quả kinh doanh đầy ấn tượng; như “cú nổ” báo hiệu tương lai tăng trưởng bứt phá phía trước.

Quả nhiên, khi không còn phải dồn lực xử lý các tồn đọng của đề án nhận sáp nhập, SHB tăng tốc đầy ấn tượng. 9 tháng đầu năm 2021, lợi nhuận hợp nhất trước thuế của SHB đạt 5.055 tỷ đồng, tăng 93,9% so với cùng kỳ năm 2020. Với kết quả này, sau nhiều quý liên tục cải thiện, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là 1,5%; tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của SHB đạt 25,6%, tương đương với chỉ số hiệu quả hàng đầu hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.

Có được kết quả này bởi SHB đã nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí trên nền tảng số hóa và quản trị tốt. Trong 9 tháng đầu năm, tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) của ngân hàng ở mức dưới 30%, mức tối ưu trong hệ thống, giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2020. Kết quả này đã phản ánh hiệu quả hơn trong tối ưu hóa vận hành với giá trị của chuyển đổi số, chất lượng nhân sự nâng cao năng suất và giảm thiểu các chi phí đầu tư theo mô hình ngân hàng truyền thống như trước đây.

Tính đến 30/9/2021, tổng tài sản SHB đạt 464 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với thời điểm đầu năm, vượt kế hoạch ĐHĐCĐ đã đề ra cho cả năm. Vốn tự có của ngân hàng đạt hơn 43,3 nghìn tỷ đồng.

Triển vọng nối tiếp triển vọng

Vừa qua, SHB tiếp tục mang đến cảm hứng mới khi chuyển giao dịch cổ phiếu sang HOSE. Quyết định “chuyển nhà” sang HOSE thời điểm này là hoàn toàn phù hợp với định hướng chiến lược của ngân hàng. Uy tín và năng lực tài chính vững mạnh của SHB cùng lợi thế của HOSE sẽ mang lại sức mạnh cộng hưởng, mở ra triển vọng mới cho cổ phiếu SHB, đặc biệt nhằm gia tăng lựa chọn những nhà đầu tư chiến lược lớn nước ngoài có chung tầm nhìn và chiến lược dài hạn, đưa ngân hàng bứt phá tăng trưởng bền vững, không ngừng mang lại lợi ích cho cổ đông, khách hàng và đối tác.

Bước sang sàn niêm yết mới, SHB có thêm điều kiện hấp thụ những động lực mới để lan tỏa thêm cảm hứng đó cho thị trường và nhà đầu tư.

Nhiều công ty chứng khoán đã dự đoán cổ phiếu SHB sẽ lọt vào rổ VNM ETF trong kỳ tái cơ cấu quý I/2022, do giá trị vốn hoá của ngân hàng này đã tăng mạnh trong thời gian qua và lọt vào nhóm 85% vốn hoá dẫn đầu. Điều này, báo hiệu SHB sẽ trở thành đại diện tiếp theo chính thức ghi dấu mình vào VN30. Cho thấy sắp tới SHB sẽ đón một nguồn vốn mới từ việc cơ cấu của các quỹ ETF đang sử dụng chỉ số VN30 làm tham chiếu bao gồm DCVFM VN30, SSIAM VN30 và Mirae Asset VN30. Lúc đó, SHB không chỉ khẳng định là top 10 ngân hàng có vốn hoá lớn nhất, mà còn đại diện thể hiện tầm vóc của thị trường Việt Nam, khi các định chế tài chính lớn trên thế giới quan tâm và đánh giá cao.

Nhìn về quá khứ các người bạn trong khu vực, như Qatar và UAE, từ lúc MSCI công bố kế hoạch nâng hạng cho hai thị trường này vào nhóm mới nổi. Chỉ số chứng khoán của các nước này tăng mạnh từ 50 - 150% và thanh khoản tăng gấp 2 - 3 lần trong giai đoạn 1 năm sau đó. Điều này cũng có thể lặp lại, khi theo ước tính của các công ty chứng khoán, trong trường hợp Việt Nam được chính thức nâng hạng lên thị trường mới nổi vào cuối năm 2022, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ thu hút dòng tiền lên tới 1,4 tỷ USD đến từ các quỹ tracking hoặc benmarking theo chỉ số FTSE Global All-Cap, FTSE All-Word và FTSE Emerging Markets. Đồng nghĩa với việc, các cổ phiếu đại diện cho các chỉ số nhất là VN30, dù tỷ trọng khiêm tốn thì lượng vốn ngoại đổ vào là rất lớn.

Những triển vọng nối tiếp triển vọng là minh chứng cho sự quyết tâm cao độ của ban lãnh đạo của ngân hàng, đưa SHB nâng tầm vị thế và không ngừng gia tăng lợi ích cho cổ đông, khách hàng và đối tác.

Hành  trình  mới  của  SHB: Chuyển mình và bứt phá

Uy tín và năng lực tài chính vững mạnh của SHB cùng lợi thế của HOSE sẽ mang lại sức mạnh cộng hưởng, mở ra triển vọng mới cho cổ phiếu SHB.

Hồng Nhung

Đọc thêm

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

Lãi trước thuế quý I/2026 của NCB tăng hơn 43%

(TBTCO) - Kết thúc quý đầu tiên của năm 2026, Ngân hàng TMCP Quốc Dân (mã Ck: NCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng mạnh. Theo đó, quý I/2026, lãi trước thuế của ngân hàng đạt hơn 216 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 43% so với quý I/2025.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲50K 16,600 ▲50K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▲50K 15,400 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▲50K 15,350 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲50K 16,450 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲50K 16,400 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲50K 16,380 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 01/05/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/05/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80