HoREA đề xuất 10 giải pháp, hạ lãi suất cho vay nhà ở xã hội để xoay chuyển thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) vừa đưa ra đề xuất 10 giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, trong đó có nhiều kiến nghị về ưu đãi lãi suất. Từ đó, giúp xoay chuyển cục diện và tái cấu trúc lại thị trường bất động sản.
aa
"Mở khóa” tín dụng, nhiều lực đẩy mới với gói cho vay nhà ở xã hội Ngân hàng "bơm" vốn ưu đãi, xem xét hạ sâu lãi suất cho vay nhà ở xã hội Thủ tướng giao chỉ tiêu hoàn thành nhà ở xã hội cho các địa phương

Trước đó, tại hội nghị Thường trực Chính phủ làm việc với doanh nghiệp Nhà nước được tổ chức cuối tháng 2/2025, lãnh đạo Chính phủ chia sẻ câu chuyện của bản thân khi mới ra trường phải đi thuê nhà, sau đó, mua được căn nhà 12 m2, tăng lên 16 m2, 30 m2, 60 m2 và chỉ đạo phải ưu tiên nhà ở xã hội trước rồi mới đến nhà ở thương mại.

"Nút thắt" về nguồn cung, thị trường phát triển lệch pha

Theo đánh giá của ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch HoREA, thị trường bất động sản năm 2025 vẫn còn nhiều khó khăn bởi ba tồn tại, khó khăn lớn cần phải tháo gỡ. Nhờ đó, đây sẽ là năm bản lề để chuyển sang giai đoạn phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững từ năm 2026 trở đi.

Theo đó, thị trường vẫn đang rất thiếu nguồn cung sản phẩm nhà ở do thiếu nguồn cung dự án chủ yếu do có đến hàng trăm dự án bất động sản, nhà ở bị vướng mắc pháp lý, điển hình là TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2015-2023 có 86 dự án bất động sản, nhà ở thương mại bị ngừng triển khai hoặc chưa triển khai thực hiện với quy mô sử dụng đất lên đến 964 ha và 54.051 căn hộ.

"Nếu tính cả giai đoạn trước năm 2015 thì có khoảng 220 dự án bị vướng mắc pháp lý, trong đó mới có 77 dự án đã được xử lý, đạt 35% và còn 143 dự án đang tiếp tục xử lý, gây lãng phí rất lớn về nguồn lực đất đai và nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp, làm thất thu ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, nhà đầu tư, khách hàng" - lãnh đạo HoREA nêu rõ.

Bên cạnh đó, từ năm 2020 đến nay, thị trường bất động sản tại một số đô thị lớn bị lệch pha về phân khúc nhà ở cao cấp, nhưng lại rất thiếu nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và nhất là rất thiếu nhà ở xã hội.

thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội
Nguồn: HoREA.

Nhà ở vừa túi tiền biến mất

"Trong đó, nhà ở giá vừa túi tiền năm 2020 chỉ chiếm 1% trong tổng số nhà ở thuộc các dự án đủ điều kiện huy động vốn, nhưng từ năm 2021-2024 thì không còn nhà ở giá vừa túi tiền. Ngược lại, tỷ lệ nhà ở cao cấp liên tục chiếm từ 70% trở lên và năm 2024, 100% nhà ở đưa ra thị trường là nhà ở cao cấp" - lãnh đạo HoREA chỉ rõ bất cập.

Điển hình tại TP. Hồ Chí Minh, nguồn cung nhà ở thương mại thuộc các dự án đủ điều kiện huy động vốn liên tục sụt giảm từ năm 2018 đến nay.

Cùng với đó, kết quả phát triển nhà ở xã hội tại TP. Hồ Chí Minh rất khiêm tốn, đến năm 2024 mới thực hiện khoảng 6.000 căn hộ, đạt 8,6% kế hoạch và trong cả nước mới hoàn thành 57.652 căn hộ nhà ở xã hội, đạt 5,7% kế hoạch trong giai đoạn 2021-2030.

Ngoài những yếu tố nêu trên, giá nhà tăng liên tục và neo giá cao, vượt quá khả năng tài chính của đa số người dân có thu nhập trung bình, thu nhập thấp đô thị, công nhân lao động, công chức, viên chức nhà nước, cán bộ lực lượng vũ trang ngày càng khó tạo lập nhà ở.

Công khai lãi suất vay ưu đãi

Theo Hiệp hội, nhà giá rẻ (low-cost housing) bao gồm 2 loại nhà, một là “nhà ở xã hội” và hai là “nhà ở thương mại giá rẻ” để đáp ứng nhu cầu nhà ở của đa số người dân có thu nhập trung bình, thu nhập thấp đô thị, công nhân lao động, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, cán bộ các lực lượng vũ trang nhân dân và người nhập cư.

thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội
HoREA đề xuất 10 giải pháp, hạ lãi suất cho vay nhà ở xã hội để xoay chuyển thị trường. Ảnh tư liệu.

Để thúc đẩy phát triển ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn 2021-2030 và tiếp tục phát triển nhà ở xã hội sau năm 2030, vừa đảm bảo an sinh xã hội về nhà ở, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa xoay chuyển cục diện để thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững, Hiệp hội đề xuất 10 giải pháp.

Đưa ra đề xuất ưu đãi lãi suất, trong giải pháp 4, HoREA nhấn mạnh, cần thực thi chính sách đối với chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội được vay vốn với lãi suất ưu đãi.

Theo đó, Hiệp hội đề nghị Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ xem xét bãi bỏ khoản 3 Điều 77 Nghị định 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 hướng dẫn Luật Nhà ở 2023.

Nhờ đó, cho phép Ngân hàng chính sách xã hội được cho vay ưu đãi đối với chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, cá nhân xây dựng hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở để cho thuê, để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và không còn xảy ra xung đột pháp luật với Điều 25, Điều 26 và khoản 3 Điều 71 Nghị định 100/2024/NĐ-CP.

Hiệp hội cũng đề nghị Ngân hàng Phát triển Việt Nam công bố điều kiện vay vốn, mức vốn vay, thời hạn vay, lãi suất vay, bảo đảm tiền vay và các nội dung khác có liên quan đối với khoản vay tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy định hiện hành của pháp luật về tín dụng đầu tư của Nhà nước, để các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội được vay vốn ưu đãi tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

"Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có văn bản hướng dẫn 9 ngân hàng thương mại thực hiện cơ chế lãi suất vay thương mại hợp lý theo cơ chế lãi suất trong thời gian ưu đãi thấp hơn 1,5-2% so với lãi suất vay trung dài hạn VND bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước trên thị trường trong từng thời kỳ và công bố công khai lãi suất vay trung dài hạn VND bình quân này đối với các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội" - Hiệp hội đề nghị.

Việc ưu đãi lãi suất thấp hơn 1,5-2% nhằm phát huy hiệu quả chương trình tín dụng 145.000 tỷ đồng. Ngoài ra, các địa phương cần tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để có thêm nhiều dự án nhà ở xã hội đủ điều kiện vay vốn theo chương trình tín dụng 145.000 tỷ đồng./.

Không còn vênh lãi suất ưu đãi

Trong giải pháp 5, Hiệp hội đề nghị Bộ Xây dựng và NHNN trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định lãi suất cho vay người mua, thuê mua nhà ở xã hội được vay vốn ưu đãi bằng với lãi suất cho vay đối với hộ nghèo là 4,7%/năm để mua, thuê mua nhà ở xã hội tại Ngân hàng chính sách xã hội quy định tại khoản 4 Điều 48 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP. Khi đó, không còn xảy ra tình trạng tại cùng thời điểm năm 2025 có 2 mức lãi suất ưu đãi tín dụng nhà ở xã hội rất chênh lệch nhau.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,850 ▼500K 16,050 ▼500K
Nguyên Liệu 99.9 15,800 ▼500K 16,000 ▼500K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17759 18032 18608
CAD 18520 18797 19414
CHF 32574 32958 33606
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30085 31113
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3240 3442
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14937 15524
SGD 19997 20279 20797
THB 718 781 836
USD (1,2) 26080 0 0
USD (5,10,20) 26121 0 0
USD (50,100) 26149 26169 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80