Khả năng FED tăng lãi suất tác động ra sao đến thị trường tiền tệ trong nước?

Chí Tín
(TBTCO) - Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có khả năng sẽ tiếp tục đợt tăng lãi suất lần tiếp theo trong tháng 12 tới, nhưng với mức độ có thể nhẹ hơn. Điều này sẽ lại là một trong những yếu tố tác động đến thị trường tài chính và tiền tệ trong nước.
aa

Khả năng đợt tăng lãi suất tiếp theo

Theo lộ trình của FED, cơ quan này có thể sẽ tiếp tục đợt tăng lãi suất vào tháng 12/2022; theo đó, ghi nhận đợt tăng lãi suất lần thứ 6 trong năm. Tuy nhiên, đợt tăng lãi suất này có thể sẽ nhẹ hơn 3 lần gần đây với mức tăng dự kiến 50 điểm cơ bản.

Việc tăng lãi suất của FED, nhưng với mức độ chậm hơn, được giới chuyên gia tài chính quốc tế đánh giá rằng, do tình hình lạm phát tại Mỹ đã bước đầu được kiểm soát, cụ thể hạ từ 8,2% trong tháng 9/2022 xuống còn 7,7% trong tháng 10/2022. Đây là mức giảm sâu hơn so với dự đoán của các nhà phân tích. Mặc dù sự suy giảm đó chưa đủ để FED ngừng tăng lãi suất, nhưng có thể cho phép tổ chức này làm chậm tốc độ tăng lãi suất.

Trước đó, sau nhiều đợt tăng lãi suất của FED, diễn biến lãi suất trong nước cũng buộc phải “tăng nhiệt” theo để phù hợp với bối cảnh chung của tình hình tài chính quốc tế.

Trong tháng 9 và tháng 10/2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải thực hiện 2 đợt tăng lãi suất điều hành liên tiếp.
Trong tháng 9 và tháng 10/2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phải thực hiện 2 đợt tăng lãi suất điều hành liên tiếp.

Trong tháng 9 và tháng 10/2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã phải thực hiện 2 đợt tăng lãi suất điều hành liên tiếp. Cụ thể, ngày 22/9, NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất tái cấp vốn từ 4% lên 5%; lãi suất tái chiết khấu từ 2,5% lên 3,5%; đồng thời điều chỉnh tăng một số nhóm lãi suất khác. Tiếp đó đến ngày 24/10, NHNN tiếp tục tăng các mức lãi suất điều hành, trong đó, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 5% lên 6%, lãi suất tái chiết khấu tăng từ 3,5% lên 4,5%. Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN với tổ chức tín dụng từ 6% lên 7%.

Sau đó, diễn biến lãi suất huy động vốn trong nước cũng tăng nhiệt, với lãi suất cho vay các kỳ hạn trên 12 tháng của nhiều ngân hàng đã lên tới mốc xấp xỉ 10%/năm. Mặt bằng lãi suất huy động theo đó leo dốc khá nhanh, cao hơn tới khoảng 20% so với lãi suất huy động giai đoạn từ tháng 8 trở về trước.

Những diễn biến tiền tệ giai đoạn tới

Trong bối cảnh FED tiếp tục tăng lãi suất, dù với mức độ nhẹ hơn, những lo ngại về một cuộc suy thoái tiếp tục đeo bám Mỹ khi một số nhà kinh tế hàng đầu cảnh báo rằng, điều này có thể xảy ra vào mùa xuân 2023.

Đối với thị trường tài chính trong nước, một số chuyên gia cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện đang chịu tác động tiêu cực của việc thắt chặt tín dụng cho các công ty bất động sản gần đây đối với phần còn lại của nền kinh tế. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Michael Kokalari - Kinh tế gia trưởng thuộc Công ty Quản lý quỹ VinaCapital, khảo sát trực tiếp của VinaCapital đối với nhiều công ty trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhận thấy, cuộc thắt chặt tín dụng hiện nay chủ yếu ảnh hưởng đến các công ty bất động sản và một số công ty nhỏ hơn. Các công ty lớn ngoài lĩnh vực bất động sản vẫn tiếp tục tiếp cận đến các nguồn tín dụng – mặc dù lãi suất có cao hơn.

Theo đó, những ảnh hưởng của lãi suất tăng và tín dụng thắt chặt có thể có, nhưng GDP của Việt Nam vẫn đang trên đà tăng trưởng (VinaCapital dự báo khoảng 8% vào năm 2022 và gần 6% vào năm 2023), trong khi lợi nhuận các doanh nghiệp đang trên đà tăng trưởng với dự báo khoảng 17% trong năm nay và năm sau. Sự kết hợp giữa giá cổ phiếu giảm và lợi nhuận tăng đã khiến hệ số giá trên thu nhập (P/E) năm 2022 của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán đang dần hấp dẫn hơn. Cụ thể, P/E đã giảm từ mức trên 17 lần vào đầu năm 2022 xuống còn 9 lần hiện tại và P/E dự đoán trong năm 2023 là 8 lần, thấp hơn 40% so với định giá P/E dự đoán của các nước trong khu vực.

Lãi suất tăng, nhưng vẫn được kiểm soát hợp lý

Theo thông tin mới đây từ Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay đối với các ngành nghề ưu tiên trong thời gian qua vẫn thấp hơn mức tối đa theo quy định. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,4 - 9,9%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên chỉ khoảng 4,6%/năm, so với mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước là 5,5%/năm.

Ngoài ra, NHNN gần đây cũng đang có những động thái cởi bớt những điểm nghẽn trong kênh tín dụng để hỗ trợ thêm cho việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế cuối năm. Cụ thể, trong văn bản mới đây gửi các ngân hàng thương mại, NHNN cho biết, vẫn còn dư địa để các tổ chức tín dụng tiếp tục tăng trưởng tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, người dân, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Theo đó, NHNN yêu cầu những tổ chức tín dụng vẫn còn hạn mức tăng trưởng tín dụng cần chủ động cân đối điều hòa nguồn vốn, tỷ lệ đảm bảo an toàn, tích cực giải ngân tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, NHNN cho biết tín dụng cần tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng của nền kinh tế. NHNN cũng lưu ý hoạt động tín dụng phải đảm bảo thanh khoản ổn định, an toàn hoạt động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Chí Tín

Đọc thêm

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Nhiều năm qua, Prudential Việt Nam liên tục được ghi nhận là một trong những doanh nghiệp có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, thể hiện rõ cam kết tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Đại hội đồng cổ đông BIC: Nhắm doanh thu kỷ lục 6.200 tỷ đồng, chờ lực đẩy từ bảo hiểm tử kỳ năm 2027

Đại hội đồng cổ đông BIC: Nhắm doanh thu kỷ lục 6.200 tỷ đồng, chờ lực đẩy từ bảo hiểm tử kỳ năm 2027

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC thông qua kế hoạch doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 780 tỷ đồng năm 2026; đồng thời, chấp thuận chủ trương mở rộng sang bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm tử kỳ và dịch vụ phụ trợ bảo hiểm. Lãnh đạo BIC cho biết, Tổng công ty đang xây dựng sản phẩm bảo hiểm tử kỳ gắn với tín dụng khách hàng và kỳ vọng có kết quả từ năm 2027.
Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
MB - Ngân hàng  top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

MB - Ngân hàng top đầu Cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME thuộc ngành kinh tế trọng điểm

(TBTCO) - Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động phức tạp, doanh nghiệp ngày càng cần nguồn vốn thông minh để duy trì vận hành hiệu quả và nắm bắt cơ hội tăng trưởng, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) ghi nhận vị thế top đầu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp SME tại các ngành kinh tế trọng điểm, theo dữ liệu cập nhật từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Hà Nội - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Miền Tây - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150 ▲200K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200 ▲200K
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 ▲1645K 16,752 ▲16752K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 ▲1645K 16,753 ▲16753K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 ▲164K 167 ▲167K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 ▲164K 1,671 ▲1671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 ▲162K 1,655 ▲1655K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 ▲157361K 163,861 ▲163861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 ▲115387K 124,287 ▲124287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 ▲103801K 112,701 ▲112701K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 ▲92215K 101,115 ▲101115K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 ▲87746K 96,646 ▲96646K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 ▲6027K 6,917 ▲6917K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cập nhật: 08/05/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18500 18776 19355
CAD 18739 19017 19634
CHF 33167 33553 34194
CNY 0 3826 3919
EUR 30319 30594 31622
GBP 35013 35407 36341
HKD 0 3229 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15968
SGD 20211 20494 21019
THB 733 796 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26100 26100 26367
AUD 18611 18711 19636
CAD 18905 19005 20020
CHF 33308 33338 34921
CNY 3804.8 3829.8 3965.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30408 30438 32163
GBP 35163 35213 36966
HKD 0 3355 0
JPY 164.12 164.62 175.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15415 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20347 20477 21208
THB 0 760.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16750000
SBJ 14000000 14000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,137 26,187 26,367
USD20 26,137 26,187 26,367
USD1 26,137 26,187 26,367
AUD 18,673 18,773 19,890
EUR 30,558 30,558 31,969
CAD 18,858 18,958 20,268
SGD 20,427 20,577 21,490
JPY 164.61 166.11 170.7
GBP 35,062 35,412 36,798
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/05/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80