Khi thị trường không chờ doanh nghiệp kịp thích ứng

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường nhiều biến động, điều quan trọng không còn nằm ở việc dự báo chính xác từng thay đổi, mà ở mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp trước những kịch bản bất định.
aa

Đây là thông điệp xuyên suốt được ông Rajesh Achanta - Cựu Phó Chủ tịch Vận hành Cung ứng Khu vực APAC, Tập đoàn P&G chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) Việt Nam tại Workshop “Vận hành tối ưu chuỗi cung ứng”. Sự kiện do Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) phối hợp với Newing tổ chức chiều 20/3, tại hội sở VPBank Hồ Chí Minh, ngay sau phiên Diễn đàn SME Forum 2026.

Khi thị trường không chờ doanh nghiệp kịp thích ứng
Ông Rajesh Achanta chia sẻ cùng các chủ doanh nghiệp trong Workshop “Vận hành tối ưu chuỗi cung ứng”.

Khi doanh nghiệp “đoán” thị trường

Workshop được VPBank “đặt hàng riêng” cho hơn 60 khách hàng SME của mình, với đề bài rất cụ thể, chia sẻ kiến thức thực chiến để chủ doanh nghiệp có thể áp dụng tức thì ngay khi bước ra cửa.

Được thiết kế với mô hình chia sẻ 1:1, các doanh nhân đã thật sự “rút ruột” bày tỏ những câu chuyện sâu kín nhất của doanh nghiệp mình, để cùng chuyên gia và các bạn đồng hành chia sẻ, tìm phương án tháo gỡ.

Một câu chuyện khá quen thuộc đã được đại diện một doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi “bày lên bàn”: doanh nghiệp không thiếu đơn hàng, nhưng lại thiếu… dữ liệu.

Đội ngũ bán hàng của doanh nghiệp nắm được tổng sản lượng tiêu thụ, nhưng khi đi vào chi tiết từng mã hàng thì lại gặp khó. Sản phẩm nào sẽ bán tốt, sản phẩm nào cần đẩy mạnh – tất cả vẫn mang tính ước đoán nhiều hơn là dữ liệu.

Vì vậy, kế hoạch sản xuất cũng không thực sự “chắc tay”. Bộ phận sản xuất buộc phải tự đưa ra các ước tính và quyết định phân bổ nguồn lực. Điều này khiến doanh nghiệp luôn ở trạng thái vừa làm vừa dò đường, tiềm ẩn rủi ro cung – cầu không khớp.

Dù dành nhiều nguồn lực để xây dựng hệ thống dự báo bài bản hơn, nhưng ngay cả khi có công cụ, bài toán chia sẻ dữ liệu với khách hàng vẫn là một rào cản không dễ tháo gỡ.

Câu chuyện này không phải cá biệt. Đây là thực trạng phổ biến của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tại Việt Nam. Khi dữ liệu chưa đầy đủ, hệ thống chưa đồng bộ và quy trình chưa chuẩn hóa, năng lực dự báo thường bị hạn chế. Trong điều kiện thị trường ổn định, điểm yếu này có thể chưa bộc lộ rõ nhưng khi biến động xuất hiện, mọi khoảng trống sẽ nhanh chóng bị phóng đại.

Chính vì nền tảng dự báo còn hạn chế, các doanh nghiệp này cũng dễ bị tổn thương hơn trước những cú sốc lớn. Thực tế thời gian qua cho thấy, các sự kiện mang tính “thiên nga đen” như đại dịch COVID-19, căng thẳng thương mại hay nóng hổi nhất là xung đột tại Trung Đông đã tạo ra những biến động mạnh, khiến nhiều doanh nghiệp SME rơi vào thế bị động và gặp khó khăn trong việc xoay chuyển tình thế.

Cần có kịch bản thích ứng với biến động

Ông Rajesh Achanta - Cựu Phó Chủ tịch Vận hành Cung ứng khu vực APAC đưa ra một góc nhìn khá thẳng thắn: vấn đề không nằm ở việc thị trường biến động ra sao, mà ở việc doanh nghiệp đã chuẩn bị đến đâu.

Ông cho rằng nhiều doanh nghiệp thường cảm thấy “bất ngờ” trước những sự kiện như xung đột địa chính trị hay giá dầu tăng. Nhưng trên thực tế, các dấu hiệu thường đã xuất hiện từ trước. Quan trọng là doanh nghiệp có theo dõi và nhận ra hay không.

Theo ông, những căng thẳng này tích tụ theo thời gian và hoàn toàn có thể được nhận diện nếu doanh nghiệp theo dõi đủ sát. Quan trọng hơn, giá dầu cũng như nhiều biến số khác trong nền kinh tế vốn dĩ không ổn định. Nó luôn biến động theo các yếu tố cung – cầu, chính trị và kinh tế toàn cầu. Vì vậy, vấn đề không phải là dự đoán chính xác nguyên nhân, mà là chuẩn bị sẵn các kịch bản ứng phó.

“Nếu giá dầu tăng, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh ra sao – cắt giảm chi phí ở đâu, tối ưu khâu nào hay thậm chí phải chuyển hướng chiến lược?”– đó là câu hỏi cần được đặt ra từ trước, thay vì đợi đến khi biến động xảy ra mới phản ứng.

Ông ví quản trị rủi ro giống như dự báo thời tiết: không thể biết chính xác khi nào sẽ “mưa”, nhưng hoàn toàn có thể theo dõi xu hướng và chuẩn bị phương án. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải xác định được các yếu tố có tác động lớn, theo dõi dữ liệu liên quan và xây dựng kế hoạch hành động rõ ràng.

Năng lực chống chịu (resilience), theo đó, không phải là phản ứng nhanh, mà là sự chuẩn bị có hệ thống: nhận diện sớm tín hiệu, xây dựng kế hoạch A, B và sẵn sàng kích hoạt khi cần. Đáng chú ý, trong nhiều trường hợp, tác động của biến động không xảy ra ngay lập tức mà có độ trễ – chính là “khoảng thời gian vàng” để doanh nghiệp chuẩn bị.

Khi thị trường không chờ doanh nghiệp kịp thích ứng
SME Forum 2026 hiện thực hóa thông điệp đồng hành với doanh nghiệp cùng phát triển của VPBank.

Đâu là lời giải cho bài toán dài hạn của doanh nghiệp Việt?

Với hơn 940.000 doanh nghiệp, trong đó phần lớn là SME, khu vực này đang đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức về năng lực vận hành.

Trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi, doanh nghiệp không chỉ cần tăng trưởng mà còn phải thích ứng nhanh hơn. Khi quy mô lớn dần, những hạn chế trong cách tổ chức, vận hành và ra quyết định cũng bộc lộ rõ hơn. Điều này đòi hỏi một sự chuyển dịch: từ làm theo kinh nghiệm sang làm theo dữ liệu, từ phản ứng sang chủ động và từ ngắn hạn sang dài hạn.

Theo ông Rajesh Achanta, doanh nghiệp không cần thay đổi quá nhanh hay chạy theo mọi xu hướng. Điều quan trọng là hiểu rõ mình đang ở đâu, đi đúng hướng, và cải thiện từng bước. “Ra quyết định dựa trên dữ liệu, đầu tư vào con người và kết nối các bộ phận thay vì vận hành rời rạc – đó mới là nền tảng” - vị chuyên gia nhấn mạnh.

Ở một góc nhìn rộng hơn, các diễn đàn như SME Forum 2026 do VPBank và Newing tổ chức ngày 20/3 đang trở thành nơi doanh nghiệp có thể tiếp cận những bài học thực tiễn và khung quản trị có thể áp dụng trực tiếp. Tuy nhiên, công cụ hay mô hình chỉ là một phần. Yếu tố quyết định vẫn là sự sẵn sàng thay đổi từ bên trong doanh nghiệp.

SME Forum 2026 và workshop “Vận hành tối ưu chuỗi cung ứng” là những sự kiện mở màn cho chuỗi các hành động song hành tri thức mà VPBank SME mang tới cho các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu từ năm nay, hiện thực hóa thông điệp đồng hành với doanh nghiệp cùng phát triển thịnh vượng của ngân hàng./.

H.C

Đọc thêm

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

Tỷ giá USD hôm nay (18/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng 10 tuần, Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao

(TBTCO) - Sáng 18/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.254 đồng, tăng 40 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng sang tuần thứ 10, lên mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng chỉ biến động nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,18%, Fed vẫn giữ lập trường "diều hâu", phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao hơn để cân bằng rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▼1500K 145,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▼150K 14,600 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼140K 14,550 ▼140K
NL 99.99 12,880 ▼120K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,830 ▼120K
Trang sức 99.9 13,740 ▼140K 14,440 ▼140K
Trang sức 99.99 13,750 ▼140K 14,450 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1302K 14,602 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1302K 14,603 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,415 ▲1272K 145 ▼1320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,415 ▲1272K 1,451 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,385 ▲1245K 143 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▼1485K 141,584 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▼1125K 107,411 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼7986K 974 ▼8868K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▼915K 87,389 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▼875K 83,527 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▼626K 59,787 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1302K 146 ▼1329K
Cập nhật: 20/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17873 18147 18720
CAD 18221 18497 19110
CHF 31939 32320 32954
CNY 0 3845 3938
EUR 29447 29667 30745
GBP 34613 35006 35932
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15081 15668
SGD 19840 20122 20693
THB 697 761 814
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,566 29,590 30,999
JPY 157.52 157.8 167.34
GBP 34,763 34,857 36,067
AUD 18,043 18,108 18,789
CAD 18,425 18,484 19,161
CHF 32,178 32,278 33,223
SGD 19,949 20,011 20,796
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,287 3,297 3,434
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 744.78 753.98 807.16
NZD 15,045 15,185 15,638
SEK - 2,678 2,772
DKK - 3,955 4,094
NOK - 2,683 2,777
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.96 - 6,776.76
TWD 733.05 - 887.95
SAR - 6,883.63 7,249.77
KWD - 83,192 88,508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,513 29,632 30,825
GBP 34,752 34,892 35,926
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,997 32,125 33,057
JPY 157.93 158.56 166.48
AUD 18,034 18,106 18,702
SGD 20,019 20,099 20,689
THB 762 765 801
CAD 18,434 18,508 19,090
NZD 15,118 15,663
KRW 16.95 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26480
AUD 18065 18165 19088
CAD 18419 18519 19533
CHF 32205 32235 33813
CNY 3825.6 3850.6 3986
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31404
GBP 34929 34979 36747
HKD 0 3355 0
JPY 158.46 158.96 169.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15207 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20000 20130 20862
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,118 26,168 26,490
USD20 26,118 26,168 26,490
USD1 26,118 26,168 26,490
AUD 18,067 18,167 19,275
EUR 29,416 29,516 31,172
CAD 18,365 18,465 19,770
SGD 20,056 20,206 20,830
JPY 158.85 160.35 165.9
GBP 34,778 34,928 36,001
XAU 14,388,000 0 14,692,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80