Kiên định với chiến lược vì con người, Prudential “ẵm trọn” hai giải thưởng quan trọng tại CSI 2022

Hà Phan
(TBTCO) - Tại Chương trình đánh giá công bố các doanh nghiệp bền vững năm 2022 (CSI 2022), Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential Việt Nam) được vinh danh với 2 hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm: Top 10 doanh nghiệp bền vững lĩnh vực thương mại - dịch vụ và Top 5 doanh nghiệp thực hiện kinh doanh có trách nhiệm, tôn trọng quyền trẻ em. Hai giải thưởng này vừa là sự ghi nhận vừa là điểm nhấn ghi dấu 23 năm Prudential Việt Nam hoạt động và phát triển bền vững tại thị trường Việt Nam.
aa

Chương trình đánh giá, công bố doanh nghiệp bền vững Việt Nam (CSI) đánh giá khoảng 1.500 doanh nghiệp và biểu dương những đơn vị thực hiện tốt hoạt động sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm trên cả 3 khía cạnh toàn diện: kinh tế - xã hội - môi trường. Sau các vòng thẩm định và bình chọn khắt khe từ Hội đồng xét duyệt, Prudential Việt Nam được vinh danh ở Top 10 doanh nghiệp bền vững lĩnh vực thương mại - dịch vụ. Đây là lần thứ 6 liên tiếp Prudential nhận được giải thưởng này. Theo đó, doanh nghiệp không chỉ thỏa mãn các tiêu chí trong 130 chỉ số của Bộ chỉ số Doanh nghiệp bền vững mà còn đạt thứ hạng cao trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ nhiều năm liền.

Bên cạnh đó, Prudential Việt Nam còn được xướng tên trong Top 5 doanh nghiệp thực hiện kinh doanh có trách nhiệm, tôn trọng quyền trẻ em. Đây là giải thưởng chuyên đề mới được bổ sung tạo ra sự khác biệt cho Bộ chỉ số Doanh nghiệp bền vững của năm 2022. Những doanh nghiệp vinh danh được Hội đồng đánh giá tốt về chính sách bảo vệ quyền con người và quyền trẻ em, tuân theo những cam kết có trong Nguyên tắc hướng dẫn của Liên hợp quốc về kinh doanh và quyền con người.

Prudential nhận giải thưởng Top 10 doanh nghiệp bền vững lần thứ 6 liên tiếp.
Prudential nhận giải thưởng Top 10 doanh nghiệp bền vững lần thứ 6 liên tiếp.

Việc xếp hạng cao trong bảng đánh giá doanh nghiệp bền vững cũng khẳng định vị thế kiểu mẫu trong ngành bảo hiểm nhân thọ của Prudential Việt Nam và ghi nhận đóng góp của doanh nghiệp này vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam. 

Phát triển bền vững là mục tiêu dài hạn

Tổng giám đốc Prudential Việt Nam ông Phương Tiến Minh chia sẻ: “Phát triển bền vững là mục tiêu dài hạn mà Prudential Việt Nam luôn theo đuổi. Chúng tôi có kinh nghiệm toàn cầu trong các hoạt động đầu tư xanh, xây dựng môi trường an toàn, cũng như kiến tạo những giá trị tích cực cho xã hội. Tại Việt Nam, Prudential Việt Nam tập trung vào việc mang lại những giải pháp bảo vệ sức khỏe và tài sản, giúp mọi người có được cuộc sống khỏe mạnh, góp phần vào sự phát triển bền vững, an toàn và thịnh vượng của cả xã hội.”

Cùng nhìn lại chặng đường của Prudential Việt Nam với những nỗ lực đóng góp vào sự phát triển bền vững của cộng đồng và xã hội.

Cam kết đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam trong quá trình đạt mục tiêu Net Zero

Tháng 6/2022, trong cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Prudential Việt Nam khẳng định cam kết hỗ trợ nền kinh tế Việt Nam thông qua các sáng kiến quan trọng như đầu tư xanh (Green Finance), công nghệ bảo hiểm và định hướng phát triển TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế.

Ở phạm vi toàn cầu, Tập đoàn Prudential cũng vừa công bố sách Trắng nhằm hỗ trợ các thị trường mới nổi trong đó có Việt Nam hướng đến nền kinh tế xanh, từ đó đạt mục tiêu phát thải nhà kính bằng 0 vào năm 2050.

Mang những sản phẩm chăm sóc sức khỏe và bảo vệ tài chính phù hợp đến gần hơn với người dân

Trong 3 năm liên tiếp, bên cạnh các dòng sản phẩm chủ lực, Prudential Việt Nam đã cho ra mắt nhiều dòng sản phẩm bảo hiểm trực tuyến với mức chi phí hợp lý, đáp ứng nhu cầu bảo vệ của mọi người trong bối cảnh dịch bệnh có nhiều áp lực tài chính như: PRU-Thiết Thực, PRU-Easy365, PRU-Bảo vệ 24/7, PRU-Nhiệt đới.

Ứng dụng chăm sóc và quản lý sức khỏe toàn diện Pulse by Prudential được ra mắt từ đầu năm 2020 đến nay đã cán mốc 2,8 triệu người dùng. Ứng dụng này cũng được Prudential bổ sung thêm tính năng mới mang tên “Sức khỏe tinh thần” với mong muốn gia tăng nhận thức của người Việt về tầm quan trọng việc duy trì cuộc sống cân bằng cả về thể chất lẫn tinh thần.

Kiến tạo giá trị bền vững cho cộng đồng bằng hành động thiết thực

Bên cạnh hoạt động hỗ trợ khẩn cấp sau thiên tai, dịch bệnh với ngân sách hơn 1,5 tỷ đồng, Prudential Việt Nam còn triển khai nhiều hoạt động mang lại giá trị bền vững cho cộng đồng và xã hội.

Một dự án dài hạn tiêu biểu có thể kể đến là “Cuộc sống độc lập khi về già” nhằm góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề già hóa dân số tại Việt Nam được Prudential Việt Nam triển khai từ năm 2020.

Prudential Việt Nam cũng triển khai dự án giáo dục tài chính Cha - Ching 4 năm liên tiếp tại hơn 84 trường tiểu học, mang những kiến thức, kỹ năng về tiền cơ bản cho hơn 55.000 học sinh, hơn 900 giáo viên và hàng nghìn phụ huynh có con trong độ tuổi 7-12. Bằng việc nâng cao năng lực tài chính cho trẻ, Prudential Việt Nam mong muốn giúp các em trở thành những công dân tự tin, hiểu biết, có trách nhiệm và tự tin trước những quyết định tài chính trong tương lai.

Phát triển môi trường làm việc đa dạng và hòa hợp tại Prudential Việt Nam

Một trong những tiêu chí quan trọng của Bộ chỉ số doanh nghiệp bền vững chính là văn hóa đa dạng và hòa hợp trong doanh nghiệp. Để đưa Đa dạng và Hòa hợp (D&I) thực sự trở thành văn hóa doanh nghiệp, Prudential Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách và hành động rất cụ thể. Gần nhất là sự kiện Pride at work được Prudential Việt Nam phối hợp với Hiệp hội các doanh nghiệp Anh quốc (BritCham) tổ chức tại Việt Nam nhằm phá bỏ định kiến giới nơi công sở. Nội bộ công ty cũng triển khai nhiều hoạt động như Pink Day (Ngày hồng), mở rộng đối tượng khám sức khỏe cho bạn đời cùng giới.

Theo thống kê, Tập đoàn Prudential châu Á có 35% lãnh đạo cấp cao là nữ giới và 2 năm liên tục lọt bảng xếp hạng Chỉ số cân bằng giới Gender Equality Index của tạp chí Bloomberg.

Hà Phan

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80