Lãi suất liên ngân hàng “leo dốc”, các ngân hàng chưa thể “thả phanh” tín dụng

Chí Tín
(TBTCO) - Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hạ lãi suất điều hành và các ngân hàng thương mại giảm lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng lại có tín hiệu ngược, “leo dốc” khá nhanh và điều này có thể là yếu tố khiến cho các ngân hàng cũng sẽ vẫn phải cân nhắc chưa thể dễ dãi trong việc đẩy mạnh cho vay.
aa

Diễn biến ngược về lãi suất

Trong những ngày đầu tháng 4/2023, yếu tố được cộng đồng quan tâm là các động thái điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các ngân hàng thương mại. Cụ thể, NHNN sau khi ban hành một số quyết định giảm lãi suất điều hành có hiệu lực từ ngày 3/4/2023 thì nhiều ngân hàng thương mại đã thực hiện việc giảm lãi suất huy động. Đây có thể coi là động thái của các ngân hàng trong việc “hưởng ứng” chủ trương của NHNN trong việc cố gắng đưa mặt bằng lãi suất xuống thấp trong thời gian tới.

Lãi suất liên ngân hàng tuy có tăng nhưng các ngân hàng vẫn duy trì ổn định khả năng kiểm soát thanh khoản.
Lãi suất liên ngân hàng tuy có tăng nhưng các ngân hàng vẫn duy trì ổn định khả năng kiểm soát thanh khoản.

Động thái này cũng mở ra nhiều kỳ vọng của giới kinh doanh trong việc lãi suất cho vay có thể sẽ giảm thấp hơn, qua đó giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng hấp thụ dòng vốn ngân hàng tốt hơn với chi phí thấp. Tuy nhiên, trái ngược với động thái giảm lãi suất điều hành và lãi suất huy động tiền gửi của các ngân hàng, diễn biến lãi suất liên ngân hàng trong giai đoạn đầu tháng 4/2023 lại "leo dốc" khá nhanh.

Trước đó, lãi suất suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng hồi cuối tháng 3 đã có những ngày giảm xuống rất thấp, có thời điểm lãi suất cho vay qua đêm chạm đáy chỉ còn 0,9%. Tuy nhiên, diễn biến lãi suất liên ngân hàng sau đó tăng dần, tại ngày 3/4 - tức ngày đầu tiên áp dụng các mức lãi suất điều hành mới theo các quyết định điều chỉnh lãi suất của NHNN, lãi suất cho vay qua đêm đã vọt tăng lên mức 2,12%. Với một số kỳ hạn thông thường khác, kỳ hạn 1 tuần là 2,6%; 2 tuần là 2,46%; 1 tháng là 5,2%...

Trong các ngày tiếp theo, lãi suất liên ngân hàng vẫn tiếp tục “leo dốc” tăng cao hơn nữa, với kỳ hạn qua đêm hiện đã lên mức 5,06%; kỳ hạn 1 tuần là 5,16%; kỳ hạn 2 tuần là 5,19%...

Tín dụng kỳ vọng tăng, nhưng chưa thể ồ ạt

Thực tế, lãi suất liên ngân hàng tuy đã tăng cao so với giai đoạn giảm đáy cuối tháng 3, nhưng so với thời điểm đỉnh thiết lập hồi đầu tháng 3 thì mặt bằng lãi suất liên ngân hàng cũng vẫn còn thấp hơn khá nhiều. Cụ thể, nhìn lại diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng hồi đầu tháng 3, lãi suất cho vay qua đêm ghi nhận hôm 2/3 thậm chí đã lên tới 6,38%. Lãi suất các kỳ hạn khác thời điểm này cũng khá cao với kỳ hạn 1 tuần là 6,48%; kỳ hạn 2 tuần là 5,98%; kỳ hạn 1 tháng là 7,4%...

Ở góc độ tích cực, việc lãi suất liên ngân hàng đã tăng trở lại sau khi giảm sâu vào thời kỳ cuối tháng 3 cho thấy, nhu cầu vốn đầu vào tại một số ngân hàng đã gia tăng mạnh hơn sau thời kỳ trầm lắng, qua đó phát đi tín hiệu về tín dụng ngân hàng có thể đang nhúc nhích tăng tốc. Trước đó về diễn biến tín dụng của nền kinh tế, số liệu từ NHNN cho biết, tăng trưởng tín dụng trong 3 tháng đầu năm 2023 mới đạt 2,08%, đây là mức tăng trưởng thấp hơn khá nhiều so với tăng trưởng 5,04% của tín dụng quý I/2022.

Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN thì cho rằng, tín dụng tăng chậm trong quý đầu năm là yếu tố thông thường do nhu cầu vay thường chậm, ít nhiều do ảnh hưởng của đợt nghỉ Tết. Tuy nhiên, ông Tú cũng có sự đánh giá về thực tế mà các ngân hàng và nền kinh tế đang phải đối mặt là tình trạng một số doanh nghiệp khó khăn đơn hàng, tồn kho còn nhiều, sản xuất ngưng trệ nên nhu cầu vốn luân chuyển giảm sút.

Ngân hàng Nhà nước không hạ trần lãi suất tối đa cho vay qua đêm

Một trong những điểm đáng chú ý trong một loạt các văn bản điều hành lãi suất lần gần đây nhất là dù nhiều loại lãi suất khác được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh giảm, nhưng NHNN không giảm trần lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng. Cụ thể, tại Quyết định số 574/QĐ-NHNN ngày 31/3/2023, lãi suất tái cấp vốn giảm từ mức 6%/năm xuống 5,5%/năm; lãi suất tái chiết khấu giữ nguyên ở mức 3,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng vẫn giữ nguyên ở mức 6%/năm.

Thực tế thời gian qua, ngành Ngân hàng cũng đã thực hiện một loạt các hành động thúc đẩy các hoạt động cho vay, gần đây nhất và việc bắt tay triển khai gói hỗ trợ lãi suất cho vay nhà ở xã hội (gói tín dụng 120 nghìn tỷ đồng). Đồng thời, NHNN cũng tiếp tục đôn đốc các ngân hàng đẩy mạnh triển khai gói hỗ trợ 2% lãi suất theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP của Chính phủ. Một trong những giải pháp khác mà NHNN và các ngân hàng đang thực hiện là tăng cường kết nối, trao đổi giữa ngân hàng và doanh nghiệp để tháo gỡ gó khăn, khơi thông dòng vốn tín dụng.

Với bối cảnh hiện tại, việc nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp gia tăng trở lại khiến cho nhu cầu vốn của một số ngân hàng gia tăng trên thị trường liên ngân hàng, cũng là yếu tố bình thường theo quy luật cung cầu. Đặc biệt, lãi suất liên ngân hàng dù có tăng trong một số thời điểm, nhưng lãi suất cho vay qua đêm vẫn chỉ ở mức 5,06% - vẫn còn thấp hơn khá nhiều so với trần lãi suất 6% theo quy định hiện hành của NHNN.

Diễn biến này cho thấy, lãi suất liên ngân hàng tuy có tăng nhanh trong giai đoạn đầu tháng 4, nhưng các ngân hàng vẫn duy trì ổn định khả năng kiểm soát thanh khoản. Mặc dù vậy, diễn biến tăng của lãi suất liên ngân hàng cho thấy, thị trường chưa thể kỳ vọng dòng tín dụng sẽ “bơm” mạnh ra thị trường quá nhiều trong thời gian tới, bởi lẽ các ngân hàng sẽ vẫn cần cân đối các yếu tố đầu vào - đầu ra để có thể điều tiết dòng tiền hợp lý./.

Chí Tín

Đọc thêm

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Shinhan Bank lãi trước thuế 2.589,8 tỷ đồng, với nhiều nguồn thu cốt lõi tăng trưởng; dư nợ cho vay khách hàng tăng 6,2%, đạt 167.638 tỷ đồng. Các chỉ tiêu an toàn được duy trì tích cực với CAR ở mức 20,7% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,55%.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Hà Nội - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Miền Tây - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 ▲200K 146,600 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▲10K 14,660 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▲10K 14,660 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▲10K 14,660 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▼40K 14,660 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▼40K 14,660 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▼40K 14,660 ▼40K
NL 99.99 13,650 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550 ▲200K
Trang sức 99.9 13,970 ▼40K 14,570 ▼40K
Trang sức 99.99 13,980 ▼40K 14,580 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▲1K 14,662 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▲1K 14,663 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▲1288K 1,461 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▲1288K 1,462 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 ▲1K 1,451 ▲1306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▲99K 143,663 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 ▲75K 108,986 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 ▲80132K 98,828 ▲88952K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 ▼70922K 8,867 ▼79742K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 ▲59K 84,752 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 ▲42K 60,663 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▲1K 1,466 ▲1K
Cập nhật: 08/09/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18200 18475 19054
CAD 18273 18549 19170
CHF 31356 31735 32375
CNY 0 3829 3925
EUR 29533 29754 30837
GBP 34334 34725 35666
HKD 0 3182 3385
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14864 15451
SGD 19978 20260 20831
THB 704 767 821
USD (1,2) 25714 0 0
USD (5,10,20) 25753 0 0
USD (50,100) 25781 25795 26165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,556 29,580 30,985
JPY 163.9 164.2 174.14
GBP 34,487 34,580 35,777
AUD 18,376 18,442 19,141
CAD 18,460 18,519 19,201
CHF 31,587 31,685 32,619
SGD 20,081 20,143 20,934
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 751.43 760.71 814.53
NZD 14,837 14,975 15,420
SEK - 2,654 2,748
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,755 2,856
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,972.09 - 6,745.09
TWD 743.37 - 900.65
SAR - 6,796.45 7,159.27
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,632 29,751 30,944
GBP 34,534 34,673 35,704
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,559 31,686 32,611
JPY 164.77 165.43 173.41
AUD 18,387 18,461 19,058
SGD 20,172 20,253 20,850
THB 769 772 809
CAD 18,495 18,569 19,165
NZD 14,973 15,516
KRW 18.46 20.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 18377 18477 19402
CAD 18468 18568 19582
CHF 31607 31637 33211
CNY 3810.3 3835.3 3970.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29714 29744 31469
GBP 34638 34688 36440
HKD 0 3330 0
JPY 165.27 165.77 176.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14977 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20140 20270 20991
THB 0 733.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,764 25,794 26,150
USD20 25,744 25,794 26,150
USD1 25,694 25,794 26,150
AUD 18,415 18,515 19,624
EUR 29,499 29,599 31,258
CAD 18,419 18,519 19,824
SGD 20,199 20,349 21,050
JPY 165.65 167.15 172.74
GBP 34,524 34,674 36,173
XAU 14,348,000 0 14,652,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/09/2026 23:00
Ngân hàng