Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 27/2, FiinRatings và S&P Global Ratings phối hợp tổ chức hội thảo "Tâm điểm Tín dụng Việt Nam 2025" với chủ đề: "Tăng trưởng, tín dụng và thị trường vốn trong kỷ nguyên mới". Tại hội thảo, các đại biểu bàn thảo về các giải pháp huy động vốn, phát triển thị trường tín dụng và tối ưu hóa nguồn lực tài chính trong kỷ nguyên mới, giúp nền kinh tế Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững.
aa
Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề cập các lĩnh vực ưu tiên vốn tín dụng, tạo đà tăng GDP trên 8% Nhiều sức hút trên thị trường trái phiếu xanh

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc FiinRatings nhấn mạnh, Việt Nam đang trong quá trình thay đổi mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao 8% và hướng đến hai con số sau đó đến 2030 nhưng phải có tính bền vững như Chính phủ đặt ra. Để hiện thực hóa tiềm năng đó, chúng ta cần một hệ thống tín dụng và thị trường vốn vững chắc.

Khơi thông thị trường vốn, tăng trưởng tín dụng nhanh và bền vững

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính (Bộ Tài chính), thị trường vốn có những bước phát triển tích cực, trở thành kênh huy động vốn ngày càng quan trọng cho đầu tư và phát triển cho nền kinh tế. Quy mô thị trường cổ phiếu và trái phiếu cuối năm 2024 đạt 93,3% GDP.

Cũng theo bà Tâm, để hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 cần tập trung vào các đột phá chiến lược, phát triển thị trường vốn và cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đóng vai trò quan trọng trong thu hút nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển nền kinh tế.

Phân tích rõ cơ hội và thách thức với các nguồn lực tài chính, ông Nguyễn Quang Thuân cho rằng, Việt Nam vẫn lệ thuộc tín dụng ngân hàng, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, lên tới 16% năm nay. Điều cần chú trọng là tăng trưởng tín dụng cao từ hệ thống ngân hàng nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn, tăng trưởng bền vững, quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn, tránh để lại hệ lụy lên ngành tài chính và nền kinh tế 5 - 7 năm nữa.

Về thị trường trái phiếu doanh nghiệp, theo ông Thuân, thị trường hồi phục tốt, quy mô phát hành năm 2024 lên tới 450 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, trái phiếu doanh nghiệp khối phi ngân hàng giúp dòng vốn đi trực tiếp sản xuất kinh doanh chỉ chiếm 23% năm 2024. Trước yêu cầu, thách thức phát triển mới và tham vọng phát triển đầu tư hạ tầng cao tốc, điện hạt nhân, năng lượng tái tạo..., điều cần thiết là khai thông thị trường vốn, trong đó có trái phiếu hạ tầng có kỳ hạn phát hành dài, có thể lên đến 30 năm.

Văn hoá xếp hạng tín nhiệm ngày càng rõ nét

"Các doanh nghiệp này đã phát hành tổng cộng 111 nghìn tỷ đồng, tương ứng 25% giá trị phát hành toàn thị trường, có nhiều lô trái phiếu đã thu hút sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư định chế trong nước và quốc tế. Phần lớn các doanh nghiệp không thuộc đối tượng bắt buộc phải xếp hạng tín nhiệm, điều này cho thấy văn hoá xếp hạng tín nhiệm ngày càng được hình thành rõ nét, giúp minh bạch thị trường trái phiếu" - ông Thuân chỉ rõ.

Sau 5 năm hoạt động, FiinRatings xếp hạng hơn 60 doanh nghiệp, trong đó riêng năm 2024, công ty xếp hạng 29 doanh nghiệp phát hành. Cũng theo ông Nguyễn Quang Thuân, năm vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tham gia xếp hạng tín nhiệm cùng FiinRatings.

Đây là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao minh bạch thông tin, làm cơ sở xác định lãi suất hợp lý, quản lý rủi ro và gắn kết chặt chẽ với điểm xếp hạng tín nhiệm.

"Chúng ta muốn huy động vốn từ công chúng từ thị trường thì yêu cầu minh bạch, kể cả hơn các quy định của pháp luật là điều cần thiết" - ông Thuân nhấn mạnh.

Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới
Các đại biểu thảo luận về chiến lược huy động vốn trong nước và quốc tế để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% và hướng tới hai con số vào năm 2030. Ảnh: Ánh Tuyết.

Bên cạnh đó, việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức từ Baa3 (đối với Moody’s) hoặc BBB- (đối với S&P và Fitch) trở lên trước năm 2030 theo Quyết định 412/QĐ-TTg ngày 31/03/2022 phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng cần được đẩy nhanh. Việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến chi phí vay vốn quốc tế của Chính phủ mà còn cả khu vực tư nhân bao gồm các doanh nghiệp đầu ngành của Việt Nam như Masan, Vingroup… và các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu, mà còn tạo ra cơ hội hỗ trợ tốt hơn việc thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp quốc tế, nâng cao uy tín của quốc gia trên thị trường tài chính toàn cầu.

Theo ông Thuân, hiện dư nợ công của Việt Nam khoảng 150 tỷ USD, khi tín nhiệm quốc gia được nâng hạng huy động lãi suất rẻ hơn. "Hiện Malaysia, Indonesia, Philippines huy động lãi suất rẻ hơn nhiều, như Indonesia huy động kỳ hạn 5 năm, với lãi suất 5% trả bằng USD, chỉ nhỉnh hơn lãi suất FED. Trong khi đó, Masan huy động trái phiếu ngoại tệ cao hơn nhiều" - ông Thuân chỉ rõ.

Tăng tốc thị trường vốn xanh

Từ góc độ quốc tế, ông Thomas Jacobs - Giám đốc Quốc gia, Việt Nam, Cambodia, Lào - Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) nhìn nhận, động lực tăng trưởng GDP năm 2024 đến từ hoạt động thương mại mạnh mẽ, đầu tư nước ngoài tăng và tiêu dùng trong nước phục hồi. Dựa trên đà phát triển này, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 8% vào năm 2025 và tăng trưởng hai chữ số những năm tới.

Tuy nhiên, theo ông Thomas Jacobs, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu có giá trị thấp, vẫn thâm dụng lao động, do đó, khó có thể đưa đất nước lên các quốc gia có thu nhập cao hơn.

"Việt Nam cần tiến vào chuỗi giá trị sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn và cải thiện kỹ năng, công nghệ và đổi mới" - đại diện IFC gợi ý.

Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới
Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới. Ánh tư liệu.

Cũng theo ông Thomas Jacobs, kinh nghiệm thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc cho thấy các quốc gia đều chuyển sang mô hình carbon thấp. Tại Việt Nam, việc triển khai tài chính biến đổi khí hậu còn chậm, trong khi ngân hàng nắm giữ 80% các khoản tiền tiết kiệm trong nước, chỉ có 5,4% trong số đó dành cho các dự án liên quan đến khí hậu.

Cùng với đó, quy mô trái phiếu xanh, xã hội và bền vững được phát hành giai đoạn 2016-2024 chỉ đạt 1,4 tỷ USD, điều này cho thấy còn nhiều thách thức, bao gồm hạn chế về nhận thức, thiếu tiêu chí phân loại rõ ràng, thị trường vốn còn nhiều rào cản, năng lực hạn chế của các ngân hàng trong việc tài trợ các dự án. Để đạt được quy mô lớn hơn và đem lại tác động, các ngân hàng phải phát triển năng lực đánh giá các dự án xanh, cung cấp các sản phẩm tín dụng xanh.

"Các sản phẩm dựa vào nhiên liệu hoá thạch, nhiên liệu đầu vào không bền vững có nguy cơ loại khỏi thị trường xuất khẩu, đây là mối đe doạ thực sự với các nhà xuất khẩu tại Việt Nam. Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu xanh, năng lượng sạch cần phải tăng cường hơn thời gian tới, giúp thu hút đầu tư và nguồn vốn" - ông Thomas Jacobs nhấn mạnh.

Góp phần tăng tốc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh tại Việt Nam, năm 2024, FiinRatings cung cấp đánh giá ý kiến bên thứ hai với 3 lô trái phiếu xanh phát hành thành công từ công ty IDI, nước sạch Hoà Bình - Xuân Mai và BIDV.

Hội thảo cũng đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa S&P Global Ratings và FiinRatings, khi hai tổ chức chính thức công bố thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm nâng cao tiêu chuẩn xếp hạng tín nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.

Bà Lynn Maxwell - Giám đốc Thương mại Toàn cầu tại S&P Global Ratings nhấn mạnh chúng tôi rất vui mừng được đồng hành cùng FiinRatings trong việc hỗ trợ thị trường vốn Việt Nam. Với kinh nghiệm toàn cầu và năng lực phân tích chuyên sâu, chúng tôi tin rằng sự hợp tác này sẽ giúp nâng cao chất lượng xếp hạng tín nhiệm và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

(TBTCO) - Lịch chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 6/2026 sẽ được thực hiện theo 2 nhóm thời gian chính, tùy thuộc kế hoạch tổ chức tại từng tỉnh, thành phố. Trong đó, có 21 tỉnh, thành phố sẽ bắt đầu chi trả từ ngày 1/6.
Giá vàng hôm nay ngày 27/5: Vàng nhẫn có nơi giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/5: Vàng nhẫn có nơi giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD/ounce, lùi về quanh ngưỡng 4.508 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn. Riêng vàng nhẫn, DOJI và PNJ giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch quanh mức 157,5 - 160,5 triệu đồng/lượng.
F88 sắp tăng vốn điều lệ gấp đôi, vượt 2.200 tỷ đồng, với đợt phát hành cổ phiếu thưởng tỷ lệ 1:1

F88 sắp tăng vốn điều lệ gấp đôi, vượt 2.200 tỷ đồng, với đợt phát hành cổ phiếu thưởng tỷ lệ 1:1

(TBTCO) - F88 vừa chốt ngày 4/6 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 1:1, dự kiến tăng gấp đôi vốn điều lệ, lên hơn 2.202 tỷ đồng. Đây là đợt đầu tiên trong kế hoạch tăng vốn mạnh năm 2026 của F88, trong bối cảnh dư nợ cho vay khách hàng đạt gần 7.900 tỷ đồng và kết quả kinh doanh quý I/2026 tăng trưởng tích cực.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,480 ▼290K 15,780 ▼290K
Kim TT/AVPL 15,480 ▼290K 15,780 ▼290K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,480 ▼270K 15,780 ▼270K
Nguyên Liệu 99.99 14,420 ▼380K 14,620 ▼380K
Nguyên Liệu 99.9 14,370 ▼380K 14,570 ▼380K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,020 ▼480K 15,420 ▼480K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,970 ▼480K 15,370 ▼480K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,900 ▼480K 15,350 ▼480K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,800 ▼2700K 157,800 ▼2700K
Hà Nội - PNJ 154,800 ▼2700K 157,800 ▼2700K
Đà Nẵng - PNJ 154,800 ▼2700K 157,800 ▼2700K
Miền Tây - PNJ 154,800 ▼2700K 157,800 ▼2700K
Tây Nguyên - PNJ 154,800 ▼2700K 157,800 ▼2700K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,800 ▼2700K 157,800 ▼2700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18216 18491 19067
CAD 18473 18750 19366
CHF 32774 33159 33808
CNY 0 3841 3933
EUR 29938 30211 31238
GBP 34494 34885 35817
HKD 0 3230 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15191 15781
SGD 20044 20327 20850
THB 721 784 838
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26143 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,393
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 30,107 30,131 31,412
JPY 160.92 161.21 170.07
GBP 34,732 34,826 35,850
AUD 18,446 18,513 19,117
CAD 18,690 18,750 19,343
CHF 33,071 33,174 33,981
SGD 20,210 20,273 20,960
CNY - 3,817 3,943
HKD 3,302 3,312 3,433
KRW 16.2 16.89 18.28
THB 769.98 779.49 830.62
NZD 15,196 15,337 15,708
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,029 4,150
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,198.21 - 6,962.23
TWD 757.57 - 913.16
SAR - 6,912.51 7,244.23
KWD - 83,723 88,634
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26393
AUD 18396 18496 19424
CAD 18653 18753 19767
CHF 33012 33042 34620
CNY 3821.7 3846.7 3981.9
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30108 30138 31861
GBP 34789 34839 36599
HKD 0 3355 0
JPY 161.55 162.05 172.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15295 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20202 20332 21059
THB 0 750.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80