Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 27/2, FiinRatings và S&P Global Ratings phối hợp tổ chức hội thảo "Tâm điểm Tín dụng Việt Nam 2025" với chủ đề: "Tăng trưởng, tín dụng và thị trường vốn trong kỷ nguyên mới". Tại hội thảo, các đại biểu bàn thảo về các giải pháp huy động vốn, phát triển thị trường tín dụng và tối ưu hóa nguồn lực tài chính trong kỷ nguyên mới, giúp nền kinh tế Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững.
aa
Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề cập các lĩnh vực ưu tiên vốn tín dụng, tạo đà tăng GDP trên 8% Nhiều sức hút trên thị trường trái phiếu xanh

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc FiinRatings nhấn mạnh, Việt Nam đang trong quá trình thay đổi mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao 8% và hướng đến hai con số sau đó đến 2030 nhưng phải có tính bền vững như Chính phủ đặt ra. Để hiện thực hóa tiềm năng đó, chúng ta cần một hệ thống tín dụng và thị trường vốn vững chắc.

Khơi thông thị trường vốn, tăng trưởng tín dụng nhanh và bền vững

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính (Bộ Tài chính), thị trường vốn có những bước phát triển tích cực, trở thành kênh huy động vốn ngày càng quan trọng cho đầu tư và phát triển cho nền kinh tế. Quy mô thị trường cổ phiếu và trái phiếu cuối năm 2024 đạt 93,3% GDP.

Cũng theo bà Tâm, để hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 cần tập trung vào các đột phá chiến lược, phát triển thị trường vốn và cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đóng vai trò quan trọng trong thu hút nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển nền kinh tế.

Phân tích rõ cơ hội và thách thức với các nguồn lực tài chính, ông Nguyễn Quang Thuân cho rằng, Việt Nam vẫn lệ thuộc tín dụng ngân hàng, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, lên tới 16% năm nay. Điều cần chú trọng là tăng trưởng tín dụng cao từ hệ thống ngân hàng nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn, tăng trưởng bền vững, quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn, tránh để lại hệ lụy lên ngành tài chính và nền kinh tế 5 - 7 năm nữa.

Về thị trường trái phiếu doanh nghiệp, theo ông Thuân, thị trường hồi phục tốt, quy mô phát hành năm 2024 lên tới 450 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, trái phiếu doanh nghiệp khối phi ngân hàng giúp dòng vốn đi trực tiếp sản xuất kinh doanh chỉ chiếm 23% năm 2024. Trước yêu cầu, thách thức phát triển mới và tham vọng phát triển đầu tư hạ tầng cao tốc, điện hạt nhân, năng lượng tái tạo..., điều cần thiết là khai thông thị trường vốn, trong đó có trái phiếu hạ tầng có kỳ hạn phát hành dài, có thể lên đến 30 năm.

Văn hoá xếp hạng tín nhiệm ngày càng rõ nét

"Các doanh nghiệp này đã phát hành tổng cộng 111 nghìn tỷ đồng, tương ứng 25% giá trị phát hành toàn thị trường, có nhiều lô trái phiếu đã thu hút sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư định chế trong nước và quốc tế. Phần lớn các doanh nghiệp không thuộc đối tượng bắt buộc phải xếp hạng tín nhiệm, điều này cho thấy văn hoá xếp hạng tín nhiệm ngày càng được hình thành rõ nét, giúp minh bạch thị trường trái phiếu" - ông Thuân chỉ rõ.

Sau 5 năm hoạt động, FiinRatings xếp hạng hơn 60 doanh nghiệp, trong đó riêng năm 2024, công ty xếp hạng 29 doanh nghiệp phát hành. Cũng theo ông Nguyễn Quang Thuân, năm vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tham gia xếp hạng tín nhiệm cùng FiinRatings.

Đây là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao minh bạch thông tin, làm cơ sở xác định lãi suất hợp lý, quản lý rủi ro và gắn kết chặt chẽ với điểm xếp hạng tín nhiệm.

"Chúng ta muốn huy động vốn từ công chúng từ thị trường thì yêu cầu minh bạch, kể cả hơn các quy định của pháp luật là điều cần thiết" - ông Thuân nhấn mạnh.

Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới
Các đại biểu thảo luận về chiến lược huy động vốn trong nước và quốc tế để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% và hướng tới hai con số vào năm 2030. Ảnh: Ánh Tuyết.

Bên cạnh đó, việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức từ Baa3 (đối với Moody’s) hoặc BBB- (đối với S&P và Fitch) trở lên trước năm 2030 theo Quyết định 412/QĐ-TTg ngày 31/03/2022 phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng cần được đẩy nhanh. Việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến chi phí vay vốn quốc tế của Chính phủ mà còn cả khu vực tư nhân bao gồm các doanh nghiệp đầu ngành của Việt Nam như Masan, Vingroup… và các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu, mà còn tạo ra cơ hội hỗ trợ tốt hơn việc thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp quốc tế, nâng cao uy tín của quốc gia trên thị trường tài chính toàn cầu.

Theo ông Thuân, hiện dư nợ công của Việt Nam khoảng 150 tỷ USD, khi tín nhiệm quốc gia được nâng hạng huy động lãi suất rẻ hơn. "Hiện Malaysia, Indonesia, Philippines huy động lãi suất rẻ hơn nhiều, như Indonesia huy động kỳ hạn 5 năm, với lãi suất 5% trả bằng USD, chỉ nhỉnh hơn lãi suất FED. Trong khi đó, Masan huy động trái phiếu ngoại tệ cao hơn nhiều" - ông Thuân chỉ rõ.

Tăng tốc thị trường vốn xanh

Từ góc độ quốc tế, ông Thomas Jacobs - Giám đốc Quốc gia, Việt Nam, Cambodia, Lào - Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) nhìn nhận, động lực tăng trưởng GDP năm 2024 đến từ hoạt động thương mại mạnh mẽ, đầu tư nước ngoài tăng và tiêu dùng trong nước phục hồi. Dựa trên đà phát triển này, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 8% vào năm 2025 và tăng trưởng hai chữ số những năm tới.

Tuy nhiên, theo ông Thomas Jacobs, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu có giá trị thấp, vẫn thâm dụng lao động, do đó, khó có thể đưa đất nước lên các quốc gia có thu nhập cao hơn.

"Việt Nam cần tiến vào chuỗi giá trị sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn và cải thiện kỹ năng, công nghệ và đổi mới" - đại diện IFC gợi ý.

Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới
Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới. Ánh tư liệu.

Cũng theo ông Thomas Jacobs, kinh nghiệm thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc cho thấy các quốc gia đều chuyển sang mô hình carbon thấp. Tại Việt Nam, việc triển khai tài chính biến đổi khí hậu còn chậm, trong khi ngân hàng nắm giữ 80% các khoản tiền tiết kiệm trong nước, chỉ có 5,4% trong số đó dành cho các dự án liên quan đến khí hậu.

Cùng với đó, quy mô trái phiếu xanh, xã hội và bền vững được phát hành giai đoạn 2016-2024 chỉ đạt 1,4 tỷ USD, điều này cho thấy còn nhiều thách thức, bao gồm hạn chế về nhận thức, thiếu tiêu chí phân loại rõ ràng, thị trường vốn còn nhiều rào cản, năng lực hạn chế của các ngân hàng trong việc tài trợ các dự án. Để đạt được quy mô lớn hơn và đem lại tác động, các ngân hàng phải phát triển năng lực đánh giá các dự án xanh, cung cấp các sản phẩm tín dụng xanh.

"Các sản phẩm dựa vào nhiên liệu hoá thạch, nhiên liệu đầu vào không bền vững có nguy cơ loại khỏi thị trường xuất khẩu, đây là mối đe doạ thực sự với các nhà xuất khẩu tại Việt Nam. Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu xanh, năng lượng sạch cần phải tăng cường hơn thời gian tới, giúp thu hút đầu tư và nguồn vốn" - ông Thomas Jacobs nhấn mạnh.

Góp phần tăng tốc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh tại Việt Nam, năm 2024, FiinRatings cung cấp đánh giá ý kiến bên thứ hai với 3 lô trái phiếu xanh phát hành thành công từ công ty IDI, nước sạch Hoà Bình - Xuân Mai và BIDV.

Hội thảo cũng đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa S&P Global Ratings và FiinRatings, khi hai tổ chức chính thức công bố thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm nâng cao tiêu chuẩn xếp hạng tín nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.

Bà Lynn Maxwell - Giám đốc Thương mại Toàn cầu tại S&P Global Ratings nhấn mạnh chúng tôi rất vui mừng được đồng hành cùng FiinRatings trong việc hỗ trợ thị trường vốn Việt Nam. Với kinh nghiệm toàn cầu và năng lực phân tích chuyên sâu, chúng tôi tin rằng sự hợp tác này sẽ giúp nâng cao chất lượng xếp hạng tín nhiệm và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80