Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngày 27/2, FiinRatings và S&P Global Ratings phối hợp tổ chức hội thảo "Tâm điểm Tín dụng Việt Nam 2025" với chủ đề: "Tăng trưởng, tín dụng và thị trường vốn trong kỷ nguyên mới". Tại hội thảo, các đại biểu bàn thảo về các giải pháp huy động vốn, phát triển thị trường tín dụng và tối ưu hóa nguồn lực tài chính trong kỷ nguyên mới, giúp nền kinh tế Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững.
aa
Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề cập các lĩnh vực ưu tiên vốn tín dụng, tạo đà tăng GDP trên 8% Nhiều sức hút trên thị trường trái phiếu xanh

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc FiinRatings nhấn mạnh, Việt Nam đang trong quá trình thay đổi mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao 8% và hướng đến hai con số sau đó đến 2030 nhưng phải có tính bền vững như Chính phủ đặt ra. Để hiện thực hóa tiềm năng đó, chúng ta cần một hệ thống tín dụng và thị trường vốn vững chắc.

Khơi thông thị trường vốn, tăng trưởng tín dụng nhanh và bền vững

Theo bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính (Bộ Tài chính), thị trường vốn có những bước phát triển tích cực, trở thành kênh huy động vốn ngày càng quan trọng cho đầu tư và phát triển cho nền kinh tế. Quy mô thị trường cổ phiếu và trái phiếu cuối năm 2024 đạt 93,3% GDP.

Cũng theo bà Tâm, để hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 cần tập trung vào các đột phá chiến lược, phát triển thị trường vốn và cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đóng vai trò quan trọng trong thu hút nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển nền kinh tế.

Phân tích rõ cơ hội và thách thức với các nguồn lực tài chính, ông Nguyễn Quang Thuân cho rằng, Việt Nam vẫn lệ thuộc tín dụng ngân hàng, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao, lên tới 16% năm nay. Điều cần chú trọng là tăng trưởng tín dụng cao từ hệ thống ngân hàng nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn, tăng trưởng bền vững, quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn, tránh để lại hệ lụy lên ngành tài chính và nền kinh tế 5 - 7 năm nữa.

Về thị trường trái phiếu doanh nghiệp, theo ông Thuân, thị trường hồi phục tốt, quy mô phát hành năm 2024 lên tới 450 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, trái phiếu doanh nghiệp khối phi ngân hàng giúp dòng vốn đi trực tiếp sản xuất kinh doanh chỉ chiếm 23% năm 2024. Trước yêu cầu, thách thức phát triển mới và tham vọng phát triển đầu tư hạ tầng cao tốc, điện hạt nhân, năng lượng tái tạo..., điều cần thiết là khai thông thị trường vốn, trong đó có trái phiếu hạ tầng có kỳ hạn phát hành dài, có thể lên đến 30 năm.

Văn hoá xếp hạng tín nhiệm ngày càng rõ nét

"Các doanh nghiệp này đã phát hành tổng cộng 111 nghìn tỷ đồng, tương ứng 25% giá trị phát hành toàn thị trường, có nhiều lô trái phiếu đã thu hút sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư định chế trong nước và quốc tế. Phần lớn các doanh nghiệp không thuộc đối tượng bắt buộc phải xếp hạng tín nhiệm, điều này cho thấy văn hoá xếp hạng tín nhiệm ngày càng được hình thành rõ nét, giúp minh bạch thị trường trái phiếu" - ông Thuân chỉ rõ.

Sau 5 năm hoạt động, FiinRatings xếp hạng hơn 60 doanh nghiệp, trong đó riêng năm 2024, công ty xếp hạng 29 doanh nghiệp phát hành. Cũng theo ông Nguyễn Quang Thuân, năm vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tham gia xếp hạng tín nhiệm cùng FiinRatings.

Đây là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao minh bạch thông tin, làm cơ sở xác định lãi suất hợp lý, quản lý rủi ro và gắn kết chặt chẽ với điểm xếp hạng tín nhiệm.

"Chúng ta muốn huy động vốn từ công chúng từ thị trường thì yêu cầu minh bạch, kể cả hơn các quy định của pháp luật là điều cần thiết" - ông Thuân nhấn mạnh.

Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới
Các đại biểu thảo luận về chiến lược huy động vốn trong nước và quốc tế để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% và hướng tới hai con số vào năm 2030. Ảnh: Ánh Tuyết.

Bên cạnh đó, việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức từ Baa3 (đối với Moody’s) hoặc BBB- (đối với S&P và Fitch) trở lên trước năm 2030 theo Quyết định 412/QĐ-TTg ngày 31/03/2022 phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng cần được đẩy nhanh. Việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến chi phí vay vốn quốc tế của Chính phủ mà còn cả khu vực tư nhân bao gồm các doanh nghiệp đầu ngành của Việt Nam như Masan, Vingroup… và các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu, mà còn tạo ra cơ hội hỗ trợ tốt hơn việc thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp quốc tế, nâng cao uy tín của quốc gia trên thị trường tài chính toàn cầu.

Theo ông Thuân, hiện dư nợ công của Việt Nam khoảng 150 tỷ USD, khi tín nhiệm quốc gia được nâng hạng huy động lãi suất rẻ hơn. "Hiện Malaysia, Indonesia, Philippines huy động lãi suất rẻ hơn nhiều, như Indonesia huy động kỳ hạn 5 năm, với lãi suất 5% trả bằng USD, chỉ nhỉnh hơn lãi suất FED. Trong khi đó, Masan huy động trái phiếu ngoại tệ cao hơn nhiều" - ông Thuân chỉ rõ.

Tăng tốc thị trường vốn xanh

Từ góc độ quốc tế, ông Thomas Jacobs - Giám đốc Quốc gia, Việt Nam, Cambodia, Lào - Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) nhìn nhận, động lực tăng trưởng GDP năm 2024 đến từ hoạt động thương mại mạnh mẽ, đầu tư nước ngoài tăng và tiêu dùng trong nước phục hồi. Dựa trên đà phát triển này, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 8% vào năm 2025 và tăng trưởng hai chữ số những năm tới.

Tuy nhiên, theo ông Thomas Jacobs, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu có giá trị thấp, vẫn thâm dụng lao động, do đó, khó có thể đưa đất nước lên các quốc gia có thu nhập cao hơn.

"Việt Nam cần tiến vào chuỗi giá trị sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn và cải thiện kỹ năng, công nghệ và đổi mới" - đại diện IFC gợi ý.

Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới
Mở van tín dụng và thị trường vốn, kích tăng trưởng GDP trong kỷ nguyên mới. Ánh tư liệu.

Cũng theo ông Thomas Jacobs, kinh nghiệm thành công của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc cho thấy các quốc gia đều chuyển sang mô hình carbon thấp. Tại Việt Nam, việc triển khai tài chính biến đổi khí hậu còn chậm, trong khi ngân hàng nắm giữ 80% các khoản tiền tiết kiệm trong nước, chỉ có 5,4% trong số đó dành cho các dự án liên quan đến khí hậu.

Cùng với đó, quy mô trái phiếu xanh, xã hội và bền vững được phát hành giai đoạn 2016-2024 chỉ đạt 1,4 tỷ USD, điều này cho thấy còn nhiều thách thức, bao gồm hạn chế về nhận thức, thiếu tiêu chí phân loại rõ ràng, thị trường vốn còn nhiều rào cản, năng lực hạn chế của các ngân hàng trong việc tài trợ các dự án. Để đạt được quy mô lớn hơn và đem lại tác động, các ngân hàng phải phát triển năng lực đánh giá các dự án xanh, cung cấp các sản phẩm tín dụng xanh.

"Các sản phẩm dựa vào nhiên liệu hoá thạch, nhiên liệu đầu vào không bền vững có nguy cơ loại khỏi thị trường xuất khẩu, đây là mối đe doạ thực sự với các nhà xuất khẩu tại Việt Nam. Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu xanh, năng lượng sạch cần phải tăng cường hơn thời gian tới, giúp thu hút đầu tư và nguồn vốn" - ông Thomas Jacobs nhấn mạnh.

Góp phần tăng tốc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh tại Việt Nam, năm 2024, FiinRatings cung cấp đánh giá ý kiến bên thứ hai với 3 lô trái phiếu xanh phát hành thành công từ công ty IDI, nước sạch Hoà Bình - Xuân Mai và BIDV.

Hội thảo cũng đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa S&P Global Ratings và FiinRatings, khi hai tổ chức chính thức công bố thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm nâng cao tiêu chuẩn xếp hạng tín nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.

Bà Lynn Maxwell - Giám đốc Thương mại Toàn cầu tại S&P Global Ratings nhấn mạnh chúng tôi rất vui mừng được đồng hành cùng FiinRatings trong việc hỗ trợ thị trường vốn Việt Nam. Với kinh nghiệm toàn cầu và năng lực phân tích chuyên sâu, chúng tôi tin rằng sự hợp tác này sẽ giúp nâng cao chất lượng xếp hạng tín nhiệm và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao vào Việt Nam./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18536 18812 19390
CAD 18691 18969 19585
CHF 33031 33417 34053
CNY 0 3839 3931
EUR 30198 30471 31496
GBP 34821 35214 36144
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15311 15895
SGD 20162 20445 20967
THB 729 792 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26145 26145 26379
AUD 18720 18820 19745
CAD 18895 18995 20011
CHF 33357 33387 34974
CNY 3818.8 3843.8 3979.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30471 30501 32226
GBP 35166 35216 36974
HKD 0 3355 0
JPY 163.61 164.11 174.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15500 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20323 20453 21183
THB 0 758.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80