Năm 2021: Nợ xấu vẫn là mối lo lớn của các ngân hàng

Diệu Thiện
(TBTCVN) - Theo các chuyên gia, mặc dù các ngân hàng công bố những kết quả khả quan về tăng trưởng lợi nhuận của năm 2020, tuy nhiên vấn đề nợ xấu vẫn là một gánh nặng rất lớn đối với các ngân hàng, khi khối nợ xấu đã tăng mạnh trong năm 2020 và dự báo sẽ tiếp tục tăng lên trong năm 2021.
aa

ngan

Lợi nhuận năm 2020 của các ngân hàng tăng mạnh nhờ sự cải thiện tín dụng và tăng trưởng mạnh doanh thu ngoài lãi.

Bất chấp khó khăn, nhiều ngân hàng vẫn lãi lớn

Theo báo cáo kết quả kinh doanh năm 2020 mới được hàng loạt ngân hàng (NH) công bố cho thấy, năm 2020, bất chấp những khó khăn do tác động tiêu cực từ đại dịch Covid-19, nhiều NH ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng mạnh so với năm liền trước hoặc vượt kế hoạch đề ra.

Đơn cử, trong 4 NH thương mại có vốn nhà nước, ngoại trừ NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) công bố lợi nhuận giảm 16%, các NH khác đều ghi nhận vẫn giữ được lợi nhuận ổn định. Cụ thể, lợi nhuận NH TMCP Ngoại thương Việt Nam đạt hơn 23.068 tỷ đồng, tương đương năm 2019; NH TMCP Công thương Việt Nam có tổng lợi nhuận riêng lẻ trước thuế là 16.450 tỷ đồng, tăng trưởng 43,5% so với năm 2019; NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam báo lãi gần 13.000 tỷ đồng, tăng gần 3% so với kế hoạch đề ra.

Tăng trưởng lợi nhuận còn ghi nhận mức cao hơn ở khối NH tư nhân. Đơn cử, lợi nhuận hợp nhất năm 2020 của NH TMCP Quân đội đạt 10.688 tỷ đồng, tăng 6,3% so với năm 2019 và vượt 19% kế hoạch cả năm. Hay NH TMCP Hàng hải Việt Nam công bố lợi nhuận trước thuế cả năm 2020 đạt 2.500 tỷ đồng, tăng 94% so với năm 2019. NH TMCP Tiên Phong công bố lãi trước thuế hơn 4.300 tỷ đồng, tăng 11% và vượt 8% kế hoạch đề ra…

Chuyên gia tài chính – ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, có một số nguyên nhân lý giải cho sự tăng trưởng lợi nhuận của các nhà băng trong năm 2020, trước hết là do sự cải thiện tăng trưởng tín dụng trong những tháng cuối năm. Theo ông Hiếu, nửa đầu năm, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống NH chỉ đạt khoảng hơn 2%. Tuy nhiên, tín dụng bắt đầu ghi nhận xu hướng tăng nhanh từ quý III/2020, khi tình hình dịch bệnh trong nước dần được khống chế và các doanh nghiệp bắt đầu khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại. Theo đó, hết quý III/2020, tăng trưởng tín dụng đạt hơn 6% và đến cuối năm 2020, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đã đạt khoảng 11%.

Song song với tín dụng tăng trưởng tích cực dịp cuối năm 2020, ông Hiếu cho rằng, lợi nhuận NH tăng còn bởi xu hướng giảm “lệch pha” giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, cụ thể là lãi suất cho vay giảm chậm hơn lãi suất huy động, từ đó biên lãi thuần được cải thiện. Cùng với đó, Thông tư số 01/2020/TT-NHNN của NH Nhà nước cho phép hệ thống các tổ chức tín dụng được phép cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ, không phải chuyển nhóm nợ với phần dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, do vậy các NH chưa phải trích lập dự phòng rủi ro nhiều như thực tế và như vậy, “bộ đệm” dự phòng rủi ro chưa “ăn” vào lợi nhuận của các NH nên lợi nhuận tăng.

Bên cạnh đó, ông Cấn Văn Lực – Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho rằng, nhiều NH ghi nhận kết quả tăng trưởng lợi nhuận khả quan trong năm 2020 còn nhờ đa dạng hóa nguồn thu, không quá phụ thuộc vào mảng hoạt động tín dụng. Theo đó, nhiều NH ghi nhận có nguồn thu lớn từ mảng dịch vụ như dịch vụ thanh toán trực tuyến, dịch vụ bán chéo sản phẩm bảo hiểm, hay nguồn thu từ các mảng kinh doanh khác như kinh doanh ngoại hối, kinh doanh chứng khoán, mua bán chứng khoán đầu tư, đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp… cũng gia tăng tốt. Thêm vào đó, nhiều NH còn mạnh tay cắt giảm chi phí hoạt động thông qua giảm chi phí cho nhân viên, giảm lương thưởng của nhân viên, đội ngũ lãnh đạo… và việc tiết giảm chi phí này đã góp phần giúp các NH có những kết quả “đẹp” về lợi nhuận trong năm 2020.

Cần tăng cường kiểm soát rủi ro nợ xấu


Mặc dù các NH công bố những kết quả khả quan về tăng trưởng lợi nhuận của năm 2020, tuy nhiên theo các chuyên gia, các nhà băng cũng rất “nặng gánh” với vấn đề nợ xấu, bởi rủi ro từ nợ xấu ngày một lớn.

Ông Cấn Văn Lực cho biết, đến cuối năm 2020, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống NH ở vào mức khoảng 3% (so với mức 1,89% cuối năm 2019) và nợ xấu gộp khoảng 5% cuối năm 2020 (so với mức 4,65% cuối năm 2019). Dự báo năm 2021, khối nợ xấu này còn có thể tăng hơn nữa, với tỷ lệ nợ xấu nội bảng có thể lên đến 3,5% - 4% và nợ xấu gộp khoảng 5,5 – 6% đến cuối năm 2021. “Trong năm 2021, có thể kinh tế sẽ tốt lên, doanh nghiệp khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh tốt hơn sẽ giảm rủi ro về nợ xấu, nhưng rõ ràng số lượng nợ cơ cấu lại của các NH đang tương đối nhiều. Hiện lượng nợ đang được cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Thông tư số 01/2020/TT-NHNN vào khoảng gần 335 nghìn tỷ đồng. Nếu chia cho tổng dư nợ hiện tại là khoảng 8,5 triệu tỷ đồng thì nợ xấu tiềm ẩn từ nợ cơ cấu là 4%. Đây sẽ là khó khăn, thách thức rất lớn đối với các NH trong năm 2021” – ông Lực nhấn mạnh thêm.

Trước thực tế khối nợ xấu tiếp tục xu hướng “phình to” trong năm 2021, để kiểm soát rủi ro nợ xấu, ông Nguyễn Trí Hiếu khuyến nghị, bên cạnh việc tích cực xử lý nợ xấu, các NH cũng cần chủ động trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu và tiềm ẩn nợ xấu. Theo ông Hiếu, đối với hoạt động tín dụng, theo quy định hiện hành, với mỗi đồng vốn cho vay ra các NH phải trích lập 0,75% dự phòng rủi ro chung, chưa kể các khoản dự phòng rủi ro cụ thể theo nhóm nợ. Đó là nguồn lực để các NH xử lý những rủi ro liên quan đến hoạt động cho vay, NH nào có tỷ lệ trích lập dự phòng bao phủ nợ xấu cao sẽ có nguồn lực đối ứng để xử lý nợ xấu tốt hơn.

“Mặc dù hiện tại, các NH vẫn đang được thực hiện quy định cơ cấu lại nợ, không chuyển nhóm nợ, song để tránh gặp rủi ro trong vấn đề kiểm soát nợ xấu có thể xảy ra trong tương lai, các NH cần chủ động tăng trích lập dự phòng rủi ro cho những khoản nợ xấu tiềm ẩn, những khoản nợ xấu đã được cơ cấu lại để phòng xa” – ông Hiếu nhấn mạnh.

Cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho gần 270 nghìn khách hàng

bị ảnh hưởng do Covid-19

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2020, các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khoảng 270 nghìn khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 với dư nợ gần 335 nghìn tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho hơn 600 nghìn khách hàng với dư nợ trên 1 triệu tỷ đồng.


Diệu Thiện

Diệu Thiện

Đọc thêm

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

(TBTCO) - Lịch chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 6/2026 sẽ được thực hiện theo 2 nhóm thời gian chính, tùy thuộc kế hoạch tổ chức tại từng tỉnh, thành phố. Trong đó, có 21 tỉnh, thành phố sẽ bắt đầu chi trả từ ngày 1/6.
Eximbank dự kiến họp cổ đông bất thường vào cuối tháng 7

Eximbank dự kiến họp cổ đông bất thường vào cuối tháng 7

(TBTCO) - Eximbank dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường vào ngày 24/7/2026 tại Hà Nội với nội dung bầu bổ sung Thành viên Hội đồng Quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ VIII (2025 - 2030).
Tỷ giá USD hôm nay (27/5): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY neo quanh 99 điểm khi đàm phán Mỹ - Iran gặp trở ngại

Tỷ giá USD hôm nay (27/5): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY neo quanh 99 điểm khi đàm phán Mỹ - Iran gặp trở ngại

(TBTCO) - Sáng ngày 27/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.137 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước. Chỉ số DXY duy trì quanh 99,07 điểm, trong bối cảnh đàm phán hòa bình Mỹ - Iran gặp trở ngại, thị trường gia tăng kỳ vọng Fed có thể tiếp tục nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Giá vàng hôm nay ngày 27/5: Vàng nhẫn có nơi giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/5: Vàng nhẫn có nơi giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD/ounce, lùi về quanh ngưỡng 4.508 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn. Riêng vàng nhẫn, DOJI và PNJ giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch quanh mức 157,5 - 160,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,770 ▼80K 16,070 ▼80K
Kim TT/AVPL 15,770 ▼80K 16,070 ▼80K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,750 ▼100K 16,050 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 14,800 ▼50K 15,000 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,750 ▼50K 14,950 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,500 ▼100K 15,900 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,450 ▼100K 15,850 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,380 ▼100K 15,830 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 157,500 ▼1000K 160,500 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 157,500 ▼1000K 160,500 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 157,500 ▼1000K 160,500 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 157,500 ▼1000K 160,500 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 157,500 ▼1000K 160,500 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 157,500 ▼1000K 160,500 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,770 ▼80K 16,070 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 15,770 ▼80K 16,070 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 15,770 ▼80K 16,070 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,750 ▼100K 16,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,750 ▼100K 16,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,750 ▼100K 16,050 ▼100K
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,240 ▼100K 15,940 ▼100K
Trang sức 99.99 15,250 ▼100K 15,950 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,577 ▼8K 16,072 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,577 ▼8K 16,073 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,572 ▲1414K 1,602 ▲1441K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,572 ▲1414K 1,603 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,552 ▲1396K 1,587 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 150,629 ▼792K 157,129 ▼792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,287 ▼600K 119,187 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,177 ▼544K 108,077 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,067 ▼488K 96,967 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 83,781 ▼467K 92,681 ▼467K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,435 ▼333K 66,335 ▼333K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,577 ▼8K 1,607 ▼8K
Cập nhật: 27/05/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18268 18544 19119
CAD 18511 18788 19404
CHF 32855 33240 33881
CNY 0 3842 3934
EUR 30024 30298 31323
GBP 34595 34987 35918
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15179 15767
SGD 20077 20360 20884
THB 724 787 841
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,153 26,153 26,393
USD(1-2-5) 25,107 - -
USD(10-20) 25,107 - -
EUR 30,216 30,240 31,514
JPY 161.35 161.64 170.49
GBP 34,898 34,992 36,007
AUD 18,605 18,672 19,270
CAD 18,770 18,830 19,419
CHF 33,225 33,328 34,126
SGD 20,260 20,323 21,009
CNY - 3,817 3,942
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.19 16.88 18.27
THB 772.83 782.38 833.14
NZD 15,107 15,247 15,613
SEK - 2,793 2,876
DKK - 4,044 4,164
NOK - 2,802 2,886
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,221.32 - 6,994.33
TWD 759.77 - 914.87
SAR - 6,919.11 7,248.34
KWD - 83,803 88,684
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,832 34,972 35,980
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,982 33,114 34,046
JPY 161.57 162.22 169.52
AUD 18,558 18,633 19,224
SGD 20,286 20,367 20,949
THB 788 791 826
CAD 18,742 18,817 19,385
NZD 15,163 15,695
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26177 26177 26393
AUD 18458 18558 19483
CAD 18696 18796 19807
CHF 33117 33147 34726
CNY 3822.6 3847.6 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30215 30245 31968
GBP 34913 34963 36715
HKD 0 3355 0
JPY 161.73 162.23 172.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15288 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20238 20368 21099
THB 0 753.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15770000 15770000 16070000
SBJ 14000000 14000000 16070000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,393
USD20 26,159 26,209 26,393
USD1 26,159 26,209 26,393
AUD 18,491 18,591 19,799
EUR 30,357 30,357 31,766
CAD 18,642 18,742 20,048
SGD 20,308 20,458 21,177
JPY 162.13 163.63 168.18
GBP 34,797 35,147 36,003
XAU 15,848,000 0 16,152,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/05/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80