Ngân hàng lo phương kế giảm bớt “tác hại” của cuộc đua lãi suất

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất huy động vẫn tiếp tục tăng nhiệt, đồng nghĩa với chi phí huy động vốn của các ngân hàng tăng cao, theo đó, việc duy trì tăng trưởng lợi nhuận sẽ là thách thức đối với các ngân hàng. Trước bối cảnh này, một trong những lời giải mà các ngân hàng phải tìm đến là tiếp tục tăng tốc dịch vụ thanh toán để bù lại những ảnh hưởng giảm lợi nhuận có thể xảy ra do cuộc đua lãi suất huy động.
aa

Cuộc đua tăng nhiệt, ngân hàng tự làm khó mình

Trong những ngày gần đây, cuộc đua tăng lãi suất huy động vẫn tiếp tục gia tăng sức nóng. Điều này diễn ra trong bối cảnh các ngân hàng phải gia tăng sức cạnh tranh trong cuộc thu hút dòng tiền để đảm bảo đáp ứng nhu cầu vay vốn cuối năm.

Những ngày giữa tháng 11/2022, nhiều ngân hàng tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) lại tiếp tục cập nhật biểu lãi suất huy động mới dành cho khách hàng cá nhân, với nhiều mức lãi suất tiếp tục tăng so với trước. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của ngân hàng này cũng tăng thêm 0,2-0,4%/năm lên 8,4-8,6%/năm đối với tiền gửi tiết kiệm online. Các kỳ hạn 12 tháng, 24 tháng, 36 tháng cũng được ngân hàng này tăng thêm 0,2-0,4%. Trước đó không lâu, VPBank cũng đã tăng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi trên tài khoản thanh toán) áp dụng với khách hàng cá nhân lên mức kịch trần 1%/năm, áp dụng từ 1/11/2022.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) cũng mới cập nhật bảng lãi suất mới từ 17/11, với lãi suất tiền gửi online kỳ hạn 18 tháng trở lên là 8,4%; còn Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) thậm chí đưa lãi suất cao nhất lên tới 9,75% với tiền gửi onlines kỳ hạn từ 13 tháng trở lên. Ngoài ra, các kỳ hạn ngắn dưới 1 năm cũng được ngân hàng này áp dụng mức lãi suất khá cao với kỳ hạn 6 tháng cũng được hưởng lãi suất tới 9,35%/năm, kỳ hạn 9 tháng là 9,5%/năm.

Lãi suất huy động đang tăng cao.
Lãi suất huy động đang tăng cao.

Hiện nay, nhiều ngân hàng đã đưa lãi suất kỳ hạn 1 tháng lên mức khá cao, chạm mốc 6%/năm. Đó là những ngân hàng như Ngân hàng TMCP Bắc Á (Bac A Bank), Ngân hàng TMCP Kiên Long (Kien Long Bank), Ngân hàng TMCP Đại Dương (Ocean Bank), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TP Bank), Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng TMCP Quốc dân (NCB)…

Trước bối cảnh lãi suất huy động tăng cao, việc các ngân hàng cũng sẽ phải tăng lãi suất đầu ra là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, lãi suất cho vay sẽ khó tăng nhanh như lãi suất huy động, đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) luôn có chủ trương hướng dòng vốn tín dụng cho vay vào các lĩnh vực ưu tiên. Trong bối cảnh thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát, chủ trương trên càng được NHNN kiểm soát chặt chẽ hơn.

Thực tế, các lĩnh vực không ưu tiên (chứng khoán, bất động sản, cho vay tiêu dùng…) đều phải thắt lưng buộc bụng với tín dụng ngân hàng do tình trạng cạn “room”, trong khi đó, lãi suất cho vay với các lĩnh vực ưu tiên lại không thể tăng được cao do bị khống chế bởi quy định về trần lãi suất của NHNN. Trong nội dung Quyết định số 1813/QĐ-NHNN ngày 24/10/2022, mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của tổ chức tín dụng đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế ưu tiên tuy được điều chỉnh tăng, nhưng cũng chỉ khống chế ở mức 5,5% (trước đó là 4,5%).

Kích thích dịch vụ thanh toán

Trong bối cảnh chịu áp lực thu hẹp khoảng cách lãi suất đầu vào - đầu ra, các ngân hàng buộc phải tìm đến giải pháp tiết giảm chi phí, trong đó việc đẩy mạnh hơn nữa dịch vụ thanh toán đang là một trong những “chiếc phao” được ngân hàng đặt nhiều kỳ vọng.

Nhiều dịch vụ được các ngân hàng số hóa

Ông Nguyễn Kim Anh - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, hiện nay nhiều dịch vụ ngân hàng đã có thể được sử dụng hoàn toàn trên kênh số như: Mở tài khoản thanh toán, thẻ ngân hàng, chuyển tiền, gửi tiết kiệm... Tốc độ tăng trưởng về giao dịch thanh toán di động bình quân hàng năm đạt hơn 90%; ngân hàng đã chủ động trong đầu tư, phát triển hạ tầng để bắt kịp được với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của thị trường.

Tuy nhiên, ngành ngân hàng vẫn đứng trước những thách thức về bài toán đầu tư hiệu quả, sự thay đổi thường xuyên, liên tục về nhu cầu, thị hiếu của khách hàng và thách thức từ xu hướng tội phạm công nghệ cao.

Bên cạnh cuộc đua lãi suất huy động, thì cuộc đua gia tăng các ứng dụng hỗ trợ thanh toán cũng không kém phần gay cấn. VPBank mới đây cũng đưa ra chính sách ưu đãi cho khách hàng sử dụng tài khoản thanh toán: Miễn phí mọi giao dịch chuyển khoản, rút tiền/nộp tiền tại hệ thống máy ATM/CDM; miễn phí sử dụng ngân hàng số, tăng hạn mức chuyển tiền cho khách hàng... Trong khi đó, một ngân hàng lớn khác là Vietcombank cũng vừa thay đổi giao diện, trải nghiệm người dùng và tính năng đổi điểm thưởng trên ứng dụng ngân hàng số trong phiên bản ứng dụng mới nhất. Không nằm ngoài cuộc đua này, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đã kết nối với ứng dụng Google Wallet nhằm mục đích đa dạng thêm phương thức thanh toán cho chủ thẻ Sacombank Visa. Google Wallet là ứng dụng cho phép chủ thẻ sử dụng điện thoại thông minh hệ điều hành Android thanh toán bằng hình thức “chạm” vào máy POS đặt tại các điểm chấp nhận thanh toán và các giao dịch qua website/ứng dụng hỗ trợ thanh toán qua Google Pay.

Việc các ngân hàng tìm mọi phương kế để thu hút khách hàng tham gia các dịch vụ thanh toán là hoàn toàn dễ hiểu, bởi đây là một trong những cách để các ngân hàng bù lại biên lợi nhuận. Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng cũng cho biết, việc gia tăng dịch vụ thanh toán cũng giúp các ngân hàng tăng tỷ lệ vốn từ tiền gửi không kỳ hạn và điều này cũng giúp cho nhiều ngân hàng tăng tỷ lệ thu nhập lãi thuần.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

SACOMBANK lãi hơn 2.100 tỷ đồng quý I/2026, tăng mạnh chi phí dự phòng gấp 10 lần

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 2.106,2 tỷ đồng, suy giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do thu nhập lãi thuần chịu áp lực từ lãi suất và chi phí dự phòng tăng gấp 10 lần khi ngân hàng tiếp tục ưu tiên xử lý rủi ro và nâng cao chất lượng tài sản. Dù vậy, các mảng ngoài lãi vẫn tăng trưởng 60,3% và chi phí hoạt động được kiểm soát.
MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

MSB giữ đà tăng trưởng lãi thuần, báo lãi gần 1.900 tỷ đồng quý I/2026

(TBTCO) - MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 1.890,4 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,6% kế hoạch năm. Kết quả được dẫn dắt bởi thu nhập lãi thuần tăng mạnh 27,7%, trong khi chi phí được kiểm soát tốt và ngân hàng chủ động tăng dự phòng, qua đó, duy trì đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Biến động địa chính trị nâng đỡ giá vàng, song thị trường "rung lắc" vì nhà đầu tư lớn bán ra

Báo cáo WGC cho thấy rủi ro địa chính trị leo thang tiếp tục thúc đẩy nhu cầu đầu tư vàng, nhưng môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra lực cản. Diễn biến đáng chú ý khi các quỹ ETF nắm giữ tăng thêm 62 tấn, song các quỹ từ Mỹ lại rút ra đáng kể trong tháng 3/2026; còn các ngân hàng trung ương mua ròng 244 tấn, dù một số tổ chức tăng cường bán ra.
HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

HDBank đạt 6.107 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, hiệu quả sinh lời cao trên nền vốn mạnh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; mã Ck: HDB) vừa công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với 6.107 tỷ đồng lợi nhuận, ROE đạt 24,29% và CAR đạt 16,16%, tiếp tục ghi nhận hiệu quả ở nhóm đầu ngành trên nền tảng vốn mạnh và quản trị chặt chẽ.
"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

"Đại tu" Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, với nhiều thay đổi lớn trong khung an toàn hệ thống. Điểm đáng chú ý là chuyển tỷ lệ từ LDR sang CDR, đồng thời điều chỉnh cách tính huy động vốn khi loại trừ 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Dự thảo cũng bổ sung các tỷ lệ theo Basel III như: LEV, LCR, NSFR và tăng quyền giám sát rủi ro của cơ quan thanh tra.
MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

MB duy trì đà tăng trưởng ổn định, củng cố nền tảng tài chính trong quý I/2026

(TBTCO) - Ngày 28/04/2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) công bố Báo cáo tài chính Quý I/2026, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực ngay từ đầu năm, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và củng cố nền tảng tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 16,600
Nguyên Liệu 99.99 15,200 15,400
Nguyên Liệu 99.9 15,150 15,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 16,450
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 16,380
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 166,000
Hà Nội - PNJ 163,000 166,000
Đà Nẵng - PNJ 163,000 166,000
Miền Tây - PNJ 163,000 166,000
Tây Nguyên - PNJ 163,000 166,000
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 166,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 16,600
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,790 16,490
Trang sức 99.99 15,800 16,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 03/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80