Ngân hàng thời AI: Khởi nguồn làn sóng chuyển đổi chiến lược vận hành

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khi biên lãi thuần (NIM) ngày càng mỏng, sức ép cải thiện hiệu quả vận hành, cắt giảm chi phí và tăng năng suất khiến việc ứng dụng AI trong ngành ngân hàng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, hành trình này không đơn giản khi các ngân hàng đối mặt với thách thức về quản lý dữ liệu, đảm bảo bảo mật và lựa chọn nguồn nhân lực phù hợp.
aa
Ngân hàng thời AI: Khởi nguồn làn sóng chuyển đổi chiến lược vận hành
AI không còn là lựa chọn thử nghiệm, mà trở thành một trụ cột trong chiến lược chuyển đổi số của các ngân hàng hiện đại. Ảnh minh họa

Vài năm trở lại đây, ngành ngân hàng liên tục chứng kiến áp lực thu hẹp biên lãi thuần (NIM), đặc biệt khi nền lãi suất đi xuống và chi phí vốn tăng lên. Điều này buộc các ngân hàng tìm kiếm những hướng đi mới để giữ vững mục tiêu lợi nhuận và gia tăng giá trị cho cổ đông.

Chiến lược đầu tư công nghệ và tái cấu trúc nguồn lực

Một trong những câu trả lời được các lãnh đạo ngân hàng nhấn mạnh tại mùa đại hội đồng cổ đông chính là ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số. Việc tối ưu hóa vận hành, tinh giản quy trình và cắt giảm chi phí được kỳ vọng có thể bù đắp phần lợi nhuận sụt giảm từ nghiệp vụ truyền thống.

Nếu giai đoạn 2020 - 2023, AI chủ yếu được nhắc đến trong các bản kế hoạch chiến lược dài hạn thì năm 2024 lại đánh dấu bước ngoặt rõ nét, khi AI trở thành từ khóa hành động cấp thiết trong các đại hội đồng cổ đông. Hàng loạt ngân hàng có bước chuyển dịch rõ ràng trong cơ cấu nhân sự, danh mục đầu tư công nghệ và mô hình vận hành, thể hiện nỗ lực hiện thực hóa các sáng kiến AI trong thực tế.

Năm 2024 là thời điểm ngành ngân hàng đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ ở quy mô lớn chưa từng có. Trong bối cảnh NIM suy giảm, công nghệ được kỳ vọng là chất xúc tác giúp nâng cao hiệu quả vận hành.

Chiến lược chuyển đổi số không còn là câu chuyện dài hạn, mà đang triển khai mạnh mẽ trong ngắn hạn để giảm thiểu chi phí vận hành và nâng cao trải nghiệm khách hàng.

Đầu tư vào dữ liệu và hạ tầng công nghệ không chỉ giúp triển khai AI, mà còn là điều kiện để cải thiện khả năng kiểm soát rủi ro, phân tích tín dụng và mở rộng quy mô giao dịch với chi phí cận biên rất thấp.

Dù chi phí đầu tư khiến lợi nhuận ngắn hạn chịu áp lực, nhưng xét về trung hạn, đây là nền tảng then chốt để cải thiện ROE (tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu).

Năm 2024 ghi nhận bước chuyển rõ nét của AI trong ngành ngân hàng, từ các ý tưởng chiến lược sang triển khai thực tiễn. Nhiều ngân hàng lớn như VPBank, MB, Techcombank và BIDV... triển khai hàng loạt dự án ứng dụng AI ở quy mô toàn hệ thống, từ nền tảng dữ liệu đến chatbot, từ phê duyệt tín dụng đến cá nhân hóa trải nghiệm. Đây là những ví dụ đầu tiên cho thấy AI không còn là lựa chọn thử nghiệm, mà trở thành một trụ cột trong chiến lược chuyển đổi số của các ngân hàng hiện đại.

Tái cấu trúc nhân lực theo mô hình hybrid

Chẳng hạn, VPBank nổi bật với việc triển khai chatbot tích hợp Generative AI có khả năng học hỏi và phản hồi theo ngữ cảnh, đồng thời xây dựng hệ sinh thái dữ liệu hợp nhất để hỗ trợ phát triển mô hình học máy. Trong khi đó, MBBank phát triển mô hình SmartBank - hệ thống giao dịch tự động 24/7 sử dụng nhận diện khuôn mặt, xử lý dữ liệu OCR và nền tảng Temenos để phục vụ khối lượng giao dịch khổng lồ lên đến hàng triệu giao dịch/ngày.

Các ngân hàng khác như ACB, Nam A Bank, SHB và Techcombank cũng liên tục tích hợp AI vào quy trình xác minh sinh trắc học, định giá tài sản và thu hộ doanh nghiệp - những khu vực vốn đòi hỏi độ chính xác và bảo mật cao.

Việc triển khai AI cải thiện hiệu quả dịch vụ, giảm tải cho nhân sự và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Tuy nhiên, các ứng dụng này vẫn chủ yếu tập trung vào khu vực ít rủi ro, chưa chạm đến những lĩnh vực nhạy cảm như: thẩm định tín dụng hay định giá tài sản, do yêu cầu cao về độ chính xác và tuân thủ pháp lý.

Sự thận trọng này cho thấy AI tuy bước vào thực tế. Song, vai trò của AI thiên về hỗ trợ, thay vì thay thế hoàn toàn con người.

Cùng với làn sóng công nghệ, năm 2024 chứng kiến xu hướng tái cấu trúc nguồn nhân lực rõ rệt trong ngành ngân hàng. Nhiều ngân hàng thực hiện cắt giảm nhân sự khối văn phòng (back-office), với tỷ lệ cắt giảm toàn hệ thống tại một số ngân hàng lớn.

Trong khi đó, khối công nghệ được ưu tiên tuyển dụng với tốc độ tăng trưởng mạnh, tập trung vào các vị trí kỹ sư phần mềm, dữ liệu và phát triển AI. Các vị trí như: nhập liệu, kiểm soát hồ sơ, xử lý văn bản... dần bị thay thế bởi hệ thống tự động hoặc AI, trong khi nhân sự được tuyển dụng chủ yếu là kỹ sư phần mềm, chuyên gia dữ liệu, AI và kinh doanh số.

Thay đổi này không chỉ để giảm chi phí nhân sự, vốn là gánh nặng lớn khi NIM xuống dưới 3,38% trong quý IV/2024, mà còn phản ánh sự chuyển đổi mô hình vận hành. Ngân hàng không còn là nơi xử lý chứng từ thủ công, mà đang tiến đến mô hình fintech nội tại, nơi con người và máy móc kết hợp theo mô hình làm việc lai (hybrid) kết hợp.

Nhiều ngân hàng như Techcombank, MB và VPBank xây dựng trung tâm công nghệ số riêng biệt, tuyển dụng nhân lực có tư duy dữ liệu và năng lực phát triển sản phẩm nội bộ. Chiến lược này giúp giảm chi phí dài hạn, đồng thời tạo ra sự chủ động trong phát triển hệ thống, không phụ thuộc hoàn toàn vào bên thứ ba. Đây cũng là nền tảng để xây dựng mô hình vận hành linh hoạt, phản ứng nhanh với thay đổi thị trường.

Quản trị chi phí bằng AI không chỉ giúp ngân hàng tiết kiệm trực tiếp, mà còn gián tiếp cải thiện khả năng mở rộng quy mô, nhưng không cần tăng tương ứng số lượng nhân sự. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng không còn là con đường duy nhất để tăng lợi nhuận, khả năng kiểm soát chi phí sẽ là yếu tố quyết định ROE của ngân hàng.

Ngân hàng mạnh tay chi cho công nghệ, tăng 60% trong 3 năm

Theo thống kê, tổng chi phí đầu tư công nghệ toàn ngành ngân hàng tăng từ gần 20.000 tỷ đồng năm 2021 lên hơn 32.000 tỷ đồng năm 2024, tương đương mức tăng trưởng hơn 60% trong vòng ba năm. Những ngân hàng như Techcombank, MB hay TPBank đầu tư hàng nghìn tỷ đồng vào hệ thống core banking, nền tảng dữ liệu lớn, AI và điện toán đám mây.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80