Ngành Ngân hàng và những dấu mốc sau 40 năm thống nhất

H.Y

H.Y

(TBTCVN) - Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Việt Nam bước sang một thời kỳ hoà bình, với nhiều chủ trương, chính sách tập trung khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Trong quá trình đó, ngành Ngân hàng đã có những bước tiến quan trọng với vai trò là “huyết mạch” của nền kinh tế.
aa

NHNN

Thống nhất về tiền tệ, ngân hàng trong cả nước

Năm 1975, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở miền Nam được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Bộ Chính trị quyết định phát hành đồng tiền ngân hàng Việt Nam ở miền Nam, thu đổi đồng tiền của chế độ Sài Gòn với tỷ lệ 1 đồng tiền mới bằng 500 đồng tiền cũ. Năm 1978, NHNN tiến hành đổi tiền lần hai, thu hồi tiền cũ trên cả nước và phát hành tiền mới, thống nhất sử dụng một loại tiền tệ.

Từ khi thành lập cho đến cuối những năm 80, hệ thống NHNN về cơ bản vẫn hoạt động như một công cụ ngân sách, chưa thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường. Trước năm 1989, hệ thống ngân hàng Việt Nam có duy nhất 1 NHNN từ trung ương đến các chi nhánh địa phương. NHNN phát hành đồng tiền quốc gia, phân phối tín dụng theo chỉ tiêu pháp lệnh của kế hoạch nhà nước; làm nghiệp vụ kho bạc, thu chi ngân sách theo lệnh của Bộ Tài chính; làm nghiệp vụ thanh toán giữa các xí nghiệp quốc doanh và thanh toán đối ngoại.

Sự thay đổi về chất trong hoạt động ngân hàng, chuyển dần sang cơ chế thị trường bắt đầu được khởi xướng từ cuối những năm 80. Trong giai đoạn này có một sự kiện xấu với hệ thống ngân hàng, đó là sự đổ vỡ của hệ thống quỹ tín dụng. Đây cũng là một bài học đắt giá cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam sau này.

Chuyển sang ngân hàng 2 cấp với nhiều mô hình sở hữu

Năm 1989, sau những chủ trương đổi mới có tính bước ngoặt, Hội đồng Bộ trưởng giao cho ông Cao Sỹ Kiêm, Tổng giám đốc NHNN, cùng với nhóm chuyên gia độc lập soạn thảo 2 pháp lệnh về ngân hàng, với sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt.

Khi có hiệu lực vào tháng 5/1990, Pháp lệnh NHNN Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính đã tạo cơ sở pháp lý tổ chức lại NHNN theo mô hình ngân hàng trung ương, cơ cấu lại các ngân hàng thương mại (NHTM) quốc doanh theo hướng kinh doanh đa năng. Lần đầu tiên, hàng loạt ngân hàng cổ phần tư nhân được phép ra đời, Việt Nam mở cửa cho ngân hàng nước ngoài thành lập liên doanh hoặc mở chi nhánh. Đây là một trong hai cam kết pháp lý đầu tiên mở cửa ra bên ngoài, có vai trò đột phá, thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi nhanh và sâu rộng sang kinh tế thị trường.

Hàng loạt các ngân hàng chuyên doanh cấp 2 với các loại hình sở hữu khác nhau ra đời trong giai đoạn này, gồm NHTM quốc doanh, cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh hoặc VPĐD của ngân hàng nước ngoài, hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài chính... Năm 1995, Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu với hoạt động ngân hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo.

Trong giai đoạn khởi phát, hệ thống ngân hàng Việt Nam không tránh khỏi non nớt nhưng bù lại là sự thận trọng, sát sao của Thường trực Chính phủ, quá trình tự do hóa được nới lỏng dần dần. Tiến trình đó đã giúp ngành Ngân hàng có những thành công ấn tượng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, vượt qua những cú sốc kinh tế trong nước và khu vực.

Hai lần tái cơ cấu các ngân hàng thương mại

Năm 1997, Luật NHNN Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng được thông qua, tạo nền tảng pháp lý căn bản hơn cho hệ thống ngân hàng tiếp tục đổi mới hoạt động theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đây cũng là năm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á và đã tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng Việt Nam. Sau giai đoạn này, nhiều NHTM cổ phần hoạt động yếu kém được sắp xếp lại. Từ hơn 50 NHTM cổ phần, đến cuối năm 2004 chỉ còn lại 37 ngân hàng.

Từ đó đến nay, ngành Ngân hàng đã trải qua nhiều cột mốc quan trọng. Năm 1999, thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Năm 2000, cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTM nhà nước và NHTM cổ phần, trong đó đáng chú ý là việc thành lập các công ty quản lý tài sản tại các NHTM.

Năm 2001, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký kết, trong đó, thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam từng bước được mở cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Năm 2002, bắt đầu tự do hóa lãi suất cho vay VND, bước cuối cùng tự do hoá hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu ra. Năm 2003, tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu phù hợp với chuẩn quốc tế đối với các NHTM, thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội, tiến tới tách bạch tín dụng chính sách với tín dụng thương mại.

Từ năm 2008 đến nay, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động lớn đến kinh tế nước ta, trong đó có hệ thống ngân hàng. Sau thời gian phát triển “nóng”, hệ thống ngân hàng bộc lộ những điểm yếu lớn trong đó nổi bật là sở hữu chéo và nợ xấu (tỷ lệ nợ xấu có lúc lên đến 17%), đe dọa sự an toàn của hệ thống, được ví như “cục máu đông” làm tắc nghẽn nền kinh tế.

Đầu năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 254 về cơ cấu lại các tổ chức tín dụng. Từ đó đến nay, việc thực hiện quá trình tái cơ cấu các ngân hàng dù còn chậm và chưa được như kỳ vọng, nhưng cũng đã đạt được những kết quả khá rõ nét. Đó là giữ ổn định hệ thống, ổn định thị trường, đưa lãi suất về mức thực dương, giảm dần tỷ lệ nợ xấu về mức 3%....

Nhìn lại lịch sử, hệ thống ngân hàng luôn gắn với sự thăng trầm của nền kinh tế. Vì vậy, việc giám sát chặt chẽ hoạt động và hiệu quả vận hành của hệ thống tín dụng, ngân hàng cần được ưu tiên hàng đầu. Sự theo dõi sát sao từ các cơ quan quản lý, các bên liên quan sẽ giúp ngân hàng kịp thời điều chỉnh, đồng thời hạn chế khả năng truyền tác động khi buộc phải loại bỏ một mắt xích của dây chuyền./.

H.Y

H.Y

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18015 18289 18866
CAD 18167 18443 19062
CHF 31154 31532 32175
CNY 0 3834 3930
EUR 29387 29607 30685
GBP 34280 34671 35608
HKD 0 3185 3388
JPY 161 164 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14673 15257
SGD 19915 20198 20765
THB 698 761 814
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26197
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,825 25,825 26,205
USD(1-2-5) 24,792 - -
USD(10-20) 24,792 - -
EUR 29,422 29,446 30,840
JPY 163.4 163.69 173.58
GBP 34,447 34,540 35,735
AUD 18,200 18,266 18,964
CAD 18,348 18,407 19,088
CHF 31,406 31,504 32,428
SGD 20,031 20,093 20,880
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,249 3,259 3,396
KRW 17.7 18.46 20.08
THB 745.73 754.94 808.32
NZD 14,657 14,793 15,235
SEK - 2,616 2,709
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,740 2,837
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,961.25 - 6,728.52
TWD 738.61 - 894.85
SAR - 6,807.95 7,171.2
KWD - 82,471 87,756
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,444 29,562 30,759
GBP 34,455 34,593 35,622
HKD 3,246 3,259 3,375
CHF 31,251 31,377 32,313
JPY 163.96 164.62 172.60
AUD 18,204 18,277 18,871
SGD 20,100 20,181 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,355 18,429 19,019
NZD 14,765 15,305
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18193 18293 19218
CAD 18340 18440 19460
CHF 31373 31403 32993
CNY 3813.4 3838.4 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29549 29579 31301
GBP 34556 34606 36377
HKD 0 3305 0
JPY 164.5 165 175.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14781 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20918
THB 0 726.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30