Nghỉ hưu sớm theo Nghị định 178/2024: Vừa được hưởng lương hưu, vừa được nhận thêm hỗ trợ

(TBTCO) - Thay vì nghỉ hưu sớm bị trừ phần trăm lương hưu, tới đây, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nghỉ hưu sớm theo 178/2024/NĐ-CP sẽ vừa được hưởng lương hưu, vừa được nhận thêm một khoản hỗ trợ.
aa
Nghỉ hưu sớm theo Nghị định 178/2024: Vừa được hưởng lương hưu, vừa được nhận thêm hỗ trợ
Ảnh minh họa

Chính phủ đã ban hành Nghị định 178/2024/NĐ-CP về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Chia sẻ về quyền lợi của người lao động khi nghỉ hưu sớm, đại diện BHXH Việt Nam nêu rõ, thay vì nghỉ hưu sớm bị trừ phần trăm lương hưu, tới đây, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nghỉ hưu sớm theo Nghị định 178 sẽ vừa được hưởng lương hưu, vừa được nhận thêm một khoản hỗ trợ. Tiền hỗ trợ cho người lao động từ ngân sách nhà nước chi trả.

Nhiều chính sách hỗ trợ người nghỉ hưu trước tuổi khi sắp xếp lại bộ máy

Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện giải quyết chế độ nghỉ hưu sớm cho các đối tượng tinh giản biên chế theo Nghị định 29/2023/NĐ-CP ngày 3/6/2023 của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế và không gặp trở ngại. Cơ quan bảo hiểm xã hội cũng đã sẵn sàng để giải quyết chế độ cho các đối tượng nghỉ hưu sớm theo Nghị định 178/2024/NĐ-CP.

Ông Đỗ Ngọc Thọ, Trưởng Ban thực hiện Chính sách Bảo hiểm xã hội (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) cho biết, từ thực tế giải quyết các chế độ nghỉ hưu trước tuổi trước đó, người lao động cần hiểu đúng về chính sách nghỉ hưu trước tuổi không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu.

Luật Bảo hiểm xã hội quy định mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi thì giảm 2% tỷ lệ hưởng lương hưu, trường hợp thời gian nghỉ hưu trước tuổi dưới 6 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu, từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng thì giảm 1%.

Các chính sách nghỉ hưu trước tuổi không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu này thường bị hiểu nhầm là được nghỉ hưu trước tuổi nhưng vẫn hưởng lương hưu hàng tháng với tỷ lệ tối đa 75% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội mà không bị giảm trừ.

Tuy nhiên, mức lương hưu hàng tháng sẽ được tính toán theo thời gian đóng bảo hiểm xã hội tính đến thời điểm nghỉ hưu (đối với lao động nữ bằng 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tương ứng 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%; đối với lao động nam bằng 45% mức bình quân tiền tương ứng 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2% và đều có mức tối đa bằng 75%).

Như vậy, nghỉ hưu trước tuổi khi tinh gọn bộ máy sẽ không bị giảm từ 2% cho mỗi năm nghỉ hưu sớm, còn mức hưởng lương hưu hàng tháng sẽ vẫn căn cứ theo thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Muốn hưởng lương hưu với tỷ lệ hưởng tối đa 75%, lao động nam phải đóng đủ 35 năm bảo hiểm xã hội, còn lao động nữ thì phải đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội.

Không ảnh hưởng đến nguồn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Trước lo ngại chính sách nghỉ hưu sớm sẽ tác động đến Quỹ Bảo hiểm xã hội, ông Thọ cho răng cũng sẽ có tác động do giảm thời gian đóng và tăng thời gian hưởng lương hưu cho người lao động. Tuy nhiên, tại khoản 4 điều 16 của đã quy định Ngân sách Nhà nước đảm bảo đủ toàn bộ khoản kinh phí tương đương với số tiền đóng bảo hiểm xã hội vào Quỹ hưu trí và tử tuất cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nghỉ hưu trước tuổi trong thời gian đủ từ 5 năm đến tuổi nghỉ hưu theo quy định mà không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu.

Tại khoản 3 điều 21 Nghị định 178 cũng đã quy định Bộ Tài chính có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan bảo hiểm xã hội tính toán khoản kinh phí ngân sách Nhà nước phải bảo đảm tương đương với số tiền đóng vào Quỹ bảo hiểm hưu trí và tử tuất cho thời gian nghỉ hưu trước tuổi của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

"Cả Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đang có hiệu lực và Luật Bảo hiểm xã hội 2024 sẽ có hiệu lực từ 1/7/2025 đều quy định Nhà nước bảo hộ Quỹ Bảo hiểm xã hội. Do vậy, việc chi trả cho các đối tượng về hưu sớm không lo ảnh hưởng đến nguồn quỹ," ông Thọ cho biết.

Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đảm bảo chi trả

Đối với Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), ông Thọ khẳng định, đương nhiên người lao động tham gia BHTN khi thôi việc sẽ được hưởng BHTN.

Theo ông Thọ, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì khi thôi việc sẽ được hưởng các chính sách về trợ cấp thất nghiệp, đào tạo nghề, tư vấn giới thiệu việc làm... Nếu người lao động nghỉ nhiều, số lượng này tăng, Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp sẽ chi ra nhiều hơn.

"Tuy nhiên, Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp hiện nay còn kết dư hơn 60.000 tỷ đồng. Do đó, với những viên chức, người lao động thôi việc khi tinh gọn bộ máy thì Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp vẫn đảm bảo khả năng chi trả," ông Thọ khẳng định.

Theo đại diện Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hiện nay cả nước có 3,3 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội; mức bình quân hưởng lương hưu của người lao động là gần 7 triệu đồng/người/tháng.

Thông tin về tình trạng người lao động rút BHXH, đại diện BHXH Việt Nam cho biết, số người hưởng BHXH một lần trong năm 2024 là gần 1,1 triệu người, giảm 1,6% so với năm 2023.

Theo ông Thọ, có nhiều lý do dẫn tới việc năm 2024 giảm số lao động rút BHXH một lần. Thứ nhất là do Luật BHXH sửa đổi quy định những người tham gia BHXH trước ngày 1/7/2025 thì vẫn rút BHXH một lần như bình thường. Do vậy người lao động yên tâm về chính sách hưởng một lần, không còn tâm lý do lắng không được rút BHXH.

Thứ hai, một số quy định mới rất cởi mở, tăng quyền lợi cho người lao động. Chẳng hạn như là giảm điều kiện thời gian tối thiểu đóng BHXH hưởng lương hưu từ 20 năm xuống còn 15 năm; bổ sung trợ cấp liên kết tầng cho những người sau tuổi nghỉ hưu đến tuổi hưởng hưu trí xã hội không có lương hưu thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.

Nguyên nhân thứ ba là do tình hình kinh tế - xã hội năm 2024 có mặt tích cực hơn, điều kiện thu nhập của người lao động tốt hơn nên không nghĩ tới chuyện phải rút BHXH một lần.

Đặc biệt là công tác truyền thông giúp người lao động nhận thức được bất lợi khi rút BHXH một lần, họ thấy rằng việc duy trì BHXH sẽ hướng tới lợi ích an sinh lâu dài với nhiều lợi ích hơn./.

Theo Chinhphu.vn

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80