Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ngân hàng chủ lực trong nhóm “big 4” đồng loạt giảm lãi suất, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng hoạt động và góp phần thúc đẩy dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
aa

Dẫn dòng vốn hướng về “động cơ” tăng trưởng

Chia sẻ bên lề buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý I/2026 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank cho biết, trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động từ chiến tranh, biến động địa chính trị, giá dầu tăng khiến doanh nghiệp và người dân càng gặp nhiều khó khăn. Nếu lãi suất tiếp tục tăng sẽ càng tạo áp lực khi chi phí đầu vào đã tăng cao.

“Do đó, ngoài việc giảm lãi suất cho vay, ngay từ năm 2025, chúng tôi cũng thực hiện một loạt các giải pháp về miễn giảm lãi cho khách hàng, cơ cấu nợ..., tức hỗ trợ các giải pháp hỗ trợ, sao cho khách hàng phục hồi hoạt động kinh doanh” - bà Bình nhấn mạnh.

Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng
Tính đến ngày 31/3, tổng dư nợ của Agribank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng. Ảnh: Đức Thanh

Phó Tổng Giám đốc Agribank thông tin thêm, với hạn mức tăng trưởng tín dụng được giao khoảng 10,67%, Agribank tiếp tục lựa chọn, phân bổ tín dụng có trọng tâm nhằm hỗ trợ các ngành tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Thông tin về kết quả tăng trưởng tín dụng đầu năm, lãnh đạo Agribank đánh giá, trong quý I/2026, dư nợ của Agribank tăng khoảng 1,8%. Nguyên nhân do Agribank tập trung tín dụng theo đúng tôn chỉ của Agribank và định hướng của Ngân hàng Nhà nước, chủ yếu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, những lĩnh vực động lực của nền kinh tế, đồng thời hạn chế các lĩnh vực rủi ro.

Tính đến ngày 31/3, tổng dư nợ của Agribank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng, trong đó cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, tương đương 64%, phù hợp với sứ mệnh phục vụ “tam nông”.

Tín dụng không đủ dàn trải, ưu tiên “đúng mạch” tăng trưởng

Trong bối cảnh tín dụng toàn hệ thống tăng cao hơn tốc độ huy động vốn, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank nhấn mạnh, việc định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên rất quan trọng, bởi nguồn vốn tín dụng không thể đủ để đáp ứng được các lĩnh vực. “Agribank kiên định với mục tiêu của mình, đó là chỉ tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, chúng tôi không đầu tư, nói không vào những lĩnh vực đầu cơ bất động sản hoặc những lĩnh vực bị ảnh hưởng đến môi trường, đấy là quan điểm khẩu vị rủi ro của Agribank” - Phó Tổng Giám đốc Agribank khẳng định.

Trong năm 2026, bên cạnh lĩnh vực cốt lõi, Agribank cũng mở rộng sang một số lĩnh vực động lực khác như: hạ tầng giao thông và năng lượng... Ngay từ quý I/2026, ngân hàng đã triển khai cho vay 4 dự án cao tốc và một số dự án năng lượng.

Cũng theo ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV, bên cạnh việc giảm lãi suất như vậy, ngân hàng tiếp tục thực hiện các gói lãi suất dành cho các đối tượng khách hàng ưu tiên như: các lĩnh vực sản xuất lương thực, lúa gạo, các nhóm mặt hàng liên quan đến các chuỗi cung ứng sản xuất, năng lượng... Theo đó, BIDV đều giảm mức lãi suất từ 1 - 1,5 phần trăm so với các khoản vay thông thường.

“Chúng tôi cũng tiết giảm chi phí nội bộ, các hoạt động chi phí hoạt động nội bộ, tinh giản quy trình nghiệp vụ, số hóa các sản phẩm dịch vụ để tăng năng suất lao động, cũng như giảm các thời gian tiếp cận quy trình các khoản vay cho khách hàng, giúp cho khách hàng tiếp cận vốn vay ngân hàng được thuận lợi và tốt hơn, giảm thời gian tiếp cận vốn vay” - lãnh đạo BIDV nhấn mạnh.

Nhấn mạnh việc chủ động kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, bà Phùng Thị Bình cho biết, dư nợ kinh doanh bất động sản của Agribank chỉ chiếm khoảng 2%, còn lại chủ yếu là cho vay tiêu dùng phục vụ mua nhà ở, đất ở của người dân. Trong đó, khoảng 83% dư nợ tiêu dùng cá nhân là các khoản vay mua, sửa nhà dưới 5 tỷ đồng.

Đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Việc các ngân hàng “big 4” như: Agribank, BIDV... đồng loạt giảm lãi suất cho vay, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và ngành nghề đóng vai trò động lực tăng trưởng, qua đó, góp phần thúc đẩy tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025 theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước.

Trao đổi tại buổi họp báo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nêu rõ, các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai tích cực, đồng bộ nhằm hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo; tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong đó, một số lĩnh vực chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá như: nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ nền kinh tế ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống; ngành công nghiệp và xây dựng…

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng tích cực giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản đã nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng; chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Cửu Long được đẩy mạnh triển khai.

Một số chương trình khác như: cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách..., cũng đang được các tổ chức tín dụng tích cực triển khai.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, về cơ bản, các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, có những chương trình đã hoàn thành mục tiêu giải ngân, cũng có những chương trình ghi nhận sự cải thiện rất tích cực về doanh số giải ngân đến thời điểm này.

“Ngân hàng Nhà nước theo dõi rất sát kết quả giải ngân của các ngân hàng thương mại tham gia chương trình. Trong trường hợp có phát sinh những khó khăn vướng mắc sẽ tiếp tục tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét giải quyết để làm sao đẩy mạnh giải ngân theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ” - bà Giang nhấn mạnh./.

Vốn ưu đãi mở đường an cư, ngân hàng cam kết đồng hành

Chương trình cho vay theo Nghị quyết 33/NQ-CP; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội được đánh giá là chương trình có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương; đồng thời chỉ đạo các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Nhờ đó, kết quả triển khai chương trình đã có chuyển biến tích cực.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 2/2026, các ngân hàng đã cam kết cho vay gần 22.000 tỷ đồng. Doanh số giải ngân của chương trình đạt khoảng 9.600 tỷ đồng, tăng khoảng 2.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025, bao gồm: 8.100 tỷ đồng cho chủ đầu tư tại 53 dự án; khoảng 1.500 tỷ đồng cho người mua nhà tại 36 dự án. Doanh số giải ngân cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội đạt khoảng 259 tỷ đồng tính từ khi triển khai ngày 31/5/2025.

Với chương trình nhà ở xã hội, Agribank tiếp tục cam kết gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng. Trong bối cảnh nhiều tổ chức tín dụng cho rằng lãi suất cho vay thấp nên không tiếp cận, Agribank vẫn kiên định quan điểm dành trọn gói 30 nghìn tỷ đồng để cho vay nhà ở xã hội với mức lãi suất ưu đãi, dù có thể phải bù lỗ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 30/5, tỷ giá trung tâm hiện ở mức 25.139 đồng, tăng 2 đồng so với phiên trước và tăng tổng cộng 5 đồng cả tuần qua. Chỉ số DXY chốt tuần ở 98,92 điểm, giảm 0,32% và mất mốc tâm lý 99 điểm khi kỳ vọng ngừng bắn tại Trung Đông, cải thiện tâm lý ưa rủi ro, qua đó, làm suy giảm nhu cầu nắm giữ đồng USD và các tài sản trú ẩn an toàn.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

Tập đoàn Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2026

(TBTCO) - Generali tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực ở tất cả các phân khúc kinh doanh, đồng thời khẳng định nền tảng vốn vững chắc.
Bảo hiểm Bảo hành an toàn MIC - giải pháp tối ưu dành cho chủ xe không lo gián đoạn bảo hành chính hãng

Bảo hiểm Bảo hành an toàn MIC - giải pháp tối ưu dành cho chủ xe không lo gián đoạn bảo hành chính hãng

(TBTCO) - Hết hạn bảo hành chính hãng luôn là nỗi lo của các chủ xe, e ngại khi có sự cố thay tháo không phải phụ tùng chính hãng sẽ ảnh hưởng đến sự vận hành của xe. Hiểu được những “trăn trở” của khách hàng, Bảo hiểm Quân đội đã cho ra mắt Bảo hiểm Bảo hành an tâm MIC - giải pháp “bảo hiểm sức khỏe” giúp các chủ xe được an tâm về dịch vụ bảo hảnh, sửa chữa hoặc thay thế chữa những bộ phận/linh kiện của xe nếu hỏng hóc xuất phát từ lỗi kỹ thuật.
DBV nhận Giải thưởng Sao Khuê 2026 với giải pháp số hóa bồi thường bảo hiểm DBV eClaim 360

DBV nhận Giải thưởng Sao Khuê 2026 với giải pháp số hóa bồi thường bảo hiểm DBV eClaim 360

(TBTCO) - Ngày 28/5/2026, Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức được vinh danh tại Giải thưởng Sao Khuê 2026 với giải pháp số hóa bồi thường bảo hiểm DBV eClaim 360.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,600 15,900
Kim TT/AVPL 15,600 15,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,600 15,900
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,200 15,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,080 15,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 156,000 159,000
Hà Nội - PNJ 156,000 159,000
Đà Nẵng - PNJ 156,000 159,000
Miền Tây - PNJ 156,000 159,000
Tây Nguyên - PNJ 156,000 159,000
Đông Nam Bộ - PNJ 156,000 159,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,600 15,900
Miếng SJC Nghệ An 15,600 15,900
Miếng SJC Thái Bình 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,600 15,900
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,090 15,790
Trang sức 99.99 15,100 15,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 156 15,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 156 15,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,558 1,588
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,558 1,589
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,538 1,573
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 149,243 155,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 109,237 118,137
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 98,225 107,125
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 87,213 96,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,965 91,865
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,851 65,751
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cập nhật: 31/05/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18361 18636 19213
CAD 18535 18812 19430
CHF 33019 33405 34057
CNY 0 3847 3940
EUR 30037 30311 31344
GBP 34603 34996 35934
HKD 0 3226 3429
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15443 16028
SGD 20061 20344 20872
THB 723 786 842
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26395
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,395
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,185 30,209 31,517
JPY 160.99 161.28 170.29
GBP 34,795 34,889 35,942
AUD 18,527 18,594 19,218
CAD 18,755 18,815 19,425
CHF 33,213 33,316 34,153
SGD 20,213 20,276 20,985
CNY - 3,820 3,949
HKD 3,297 3,307 3,431
KRW 16.13 16.82 18.22
THB 772.31 781.85 833.27
NZD 15,364 15,507 15,900
SEK - 2,802 2,888
DKK - 4,039 4,164
NOK - 2,797 2,883
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,214.15 - 6,983.75
TWD 758.63 - 915.14
SAR - 6,905.73 7,242.67
KWD - 83,643 88,617
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,115 26,135 26,395
EUR 30,113 30,234 31,425
GBP 34,770 34,910 35,930
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 33,019 33,152 34,100
JPY 161.43 162.08 169.44
AUD 18,503 18,577 19,173
SGD 20,270 20,351 20,941
THB 789 792 827
CAD 18,755 18,830 19,406
NZD 15,418 15,960
KRW 16.80 18.44
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26395
AUD 18476 18576 19501
CAD 18694 18794 19806
CHF 33197 33227 34810
CNY 3826.2 3851.2 3986.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30171 30201 31924
GBP 34787 34837 36595
HKD 0 3355 0
JPY 161.61 162.11 172.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20199 20329 21057
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,046 26,046 26,395
USD20 26,046 26,046 26,395
USD1 26,046 26,046 26,395
AUD 18,507 18,607 19,799
EUR 30,297 30,297 31,705
CAD 18,644 18,744 20,051
SGD 20,279 20,429 20,990
JPY 162.12 163.62 168.15
GBP 34,668 35,018 35,882
XAU 15,548,000 0 15,852,000
CNY 0 3,736 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/05/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80