Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ngân hàng chủ lực trong nhóm “big 4” đồng loạt giảm lãi suất, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng hoạt động và góp phần thúc đẩy dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
aa

Dẫn dòng vốn hướng về “động cơ” tăng trưởng

Chia sẻ bên lề buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý I/2026 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank cho biết, trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động từ chiến tranh, biến động địa chính trị, giá dầu tăng khiến doanh nghiệp và người dân càng gặp nhiều khó khăn. Nếu lãi suất tiếp tục tăng sẽ càng tạo áp lực khi chi phí đầu vào đã tăng cao.

“Do đó, ngoài việc giảm lãi suất cho vay, ngay từ năm 2025, chúng tôi cũng thực hiện một loạt các giải pháp về miễn giảm lãi cho khách hàng, cơ cấu nợ..., tức hỗ trợ các giải pháp hỗ trợ, sao cho khách hàng phục hồi hoạt động kinh doanh” - bà Bình nhấn mạnh.

Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng
Tính đến ngày 31/3, tổng dư nợ của Agribank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng. Ảnh: Đức Thanh

Phó Tổng Giám đốc Agribank thông tin thêm, với hạn mức tăng trưởng tín dụng được giao khoảng 10,67%, Agribank tiếp tục lựa chọn, phân bổ tín dụng có trọng tâm nhằm hỗ trợ các ngành tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Thông tin về kết quả tăng trưởng tín dụng đầu năm, lãnh đạo Agribank đánh giá, trong quý I/2026, dư nợ của Agribank tăng khoảng 1,8%. Nguyên nhân do Agribank tập trung tín dụng theo đúng tôn chỉ của Agribank và định hướng của Ngân hàng Nhà nước, chủ yếu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, những lĩnh vực động lực của nền kinh tế, đồng thời hạn chế các lĩnh vực rủi ro.

Tính đến ngày 31/3, tổng dư nợ của Agribank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng, trong đó cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, tương đương 64%, phù hợp với sứ mệnh phục vụ “tam nông”.

Tín dụng không đủ dàn trải, ưu tiên “đúng mạch” tăng trưởng

Trong bối cảnh tín dụng toàn hệ thống tăng cao hơn tốc độ huy động vốn, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank nhấn mạnh, việc định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên rất quan trọng, bởi nguồn vốn tín dụng không thể đủ để đáp ứng được các lĩnh vực. “Agribank kiên định với mục tiêu của mình, đó là chỉ tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, chúng tôi không đầu tư, nói không vào những lĩnh vực đầu cơ bất động sản hoặc những lĩnh vực bị ảnh hưởng đến môi trường, đấy là quan điểm khẩu vị rủi ro của Agribank” - Phó Tổng Giám đốc Agribank khẳng định.

Trong năm 2026, bên cạnh lĩnh vực cốt lõi, Agribank cũng mở rộng sang một số lĩnh vực động lực khác như: hạ tầng giao thông và năng lượng... Ngay từ quý I/2026, ngân hàng đã triển khai cho vay 4 dự án cao tốc và một số dự án năng lượng.

Cũng theo ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV, bên cạnh việc giảm lãi suất như vậy, ngân hàng tiếp tục thực hiện các gói lãi suất dành cho các đối tượng khách hàng ưu tiên như: các lĩnh vực sản xuất lương thực, lúa gạo, các nhóm mặt hàng liên quan đến các chuỗi cung ứng sản xuất, năng lượng... Theo đó, BIDV đều giảm mức lãi suất từ 1 - 1,5 phần trăm so với các khoản vay thông thường.

“Chúng tôi cũng tiết giảm chi phí nội bộ, các hoạt động chi phí hoạt động nội bộ, tinh giản quy trình nghiệp vụ, số hóa các sản phẩm dịch vụ để tăng năng suất lao động, cũng như giảm các thời gian tiếp cận quy trình các khoản vay cho khách hàng, giúp cho khách hàng tiếp cận vốn vay ngân hàng được thuận lợi và tốt hơn, giảm thời gian tiếp cận vốn vay” - lãnh đạo BIDV nhấn mạnh.

Nhấn mạnh việc chủ động kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, bà Phùng Thị Bình cho biết, dư nợ kinh doanh bất động sản của Agribank chỉ chiếm khoảng 2%, còn lại chủ yếu là cho vay tiêu dùng phục vụ mua nhà ở, đất ở của người dân. Trong đó, khoảng 83% dư nợ tiêu dùng cá nhân là các khoản vay mua, sửa nhà dưới 5 tỷ đồng.

Đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Việc các ngân hàng “big 4” như: Agribank, BIDV... đồng loạt giảm lãi suất cho vay, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và ngành nghề đóng vai trò động lực tăng trưởng, qua đó, góp phần thúc đẩy tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025 theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước.

Trao đổi tại buổi họp báo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nêu rõ, các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai tích cực, đồng bộ nhằm hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo; tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong đó, một số lĩnh vực chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá như: nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ nền kinh tế ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống; ngành công nghiệp và xây dựng…

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng tích cực giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản đã nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng; chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Cửu Long được đẩy mạnh triển khai.

Một số chương trình khác như: cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách..., cũng đang được các tổ chức tín dụng tích cực triển khai.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, về cơ bản, các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, có những chương trình đã hoàn thành mục tiêu giải ngân, cũng có những chương trình ghi nhận sự cải thiện rất tích cực về doanh số giải ngân đến thời điểm này.

“Ngân hàng Nhà nước theo dõi rất sát kết quả giải ngân của các ngân hàng thương mại tham gia chương trình. Trong trường hợp có phát sinh những khó khăn vướng mắc sẽ tiếp tục tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét giải quyết để làm sao đẩy mạnh giải ngân theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ” - bà Giang nhấn mạnh./.

Vốn ưu đãi mở đường an cư, ngân hàng cam kết đồng hành

Chương trình cho vay theo Nghị quyết 33/NQ-CP; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội được đánh giá là chương trình có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương; đồng thời chỉ đạo các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Nhờ đó, kết quả triển khai chương trình đã có chuyển biến tích cực.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 2/2026, các ngân hàng đã cam kết cho vay gần 22.000 tỷ đồng. Doanh số giải ngân của chương trình đạt khoảng 9.600 tỷ đồng, tăng khoảng 2.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025, bao gồm: 8.100 tỷ đồng cho chủ đầu tư tại 53 dự án; khoảng 1.500 tỷ đồng cho người mua nhà tại 36 dự án. Doanh số giải ngân cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội đạt khoảng 259 tỷ đồng tính từ khi triển khai ngày 31/5/2025.

Với chương trình nhà ở xã hội, Agribank tiếp tục cam kết gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng. Trong bối cảnh nhiều tổ chức tín dụng cho rằng lãi suất cho vay thấp nên không tiếp cận, Agribank vẫn kiên định quan điểm dành trọn gói 30 nghìn tỷ đồng để cho vay nhà ở xã hội với mức lãi suất ưu đãi, dù có thể phải bù lỗ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (16/9): USD phân hóa, Fed có thể “nhập cuộc” sau 25 ngân hàng trung ương tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 16/9, tỷ giá trung tâm tăng 9 đồng lên 25.626 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do đi xuống; còn chỉ số DXY tăng 0,06% lên 99,7 điểm. Thị trường kỳ vọng Fed tăng lãi suất tuần này. Theo BNP Paribas (Pháp), lãi suất toàn cầu đang đi ba hướng, với 25 trong gần 90 ngân hàng trung ương được theo dõi đã tăng lãi suất từ đầu năm.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,900 ▲600K 145,900 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,290 ▲60K 14,590 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,290 ▲60K 14,590 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,290 ▲60K 14,590 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,290 ▲60K 14,640 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,290 ▲60K 14,640 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,290 ▲60K 14,640 ▲60K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,950 ▲60K 14,550 ▲60K
Trang sức 99.99 13,960 ▲60K 14,560 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,429 ▲6K 14,592 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,429 ▲6K 14,593 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,424 ▲6K 1,454 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,424 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,399 ▲6K 1,444 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,597 ▼121779K 14,297 ▼128079K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,661 ▲450K 108,461 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,552 ▲408K 98,352 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,443 ▲366K 88,243 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,544 ▲350K 84,344 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,571 ▲250K 60,371 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,429 ▲6K 1,459 ▲6K
Cập nhật: 16/09/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17984 18259 18832
CAD 18116 18391 19009
CHF 31080 31458 32099
CNY 0 3829 3924
EUR 29352 29573 30650
GBP 34214 34605 35539
HKD 0 3181 3383
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14621 15211
SGD 19866 20148 20715
THB 697 760 813
USD (1,2) 25717 0 0
USD (5,10,20) 25756 0 0
USD (50,100) 25784 25798 26163
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,403 29,427 30,824
JPY 162.81 163.1 172.97
GBP 34,396 34,489 35,682
AUD 18,178 18,244 18,935
CAD 18,305 18,364 19,044
CHF 31,346 31,443 32,365
SGD 19,993 20,055 20,840
CNY - 3,798 3,932
HKD 3,246 3,256 3,392
KRW 17.56 18.31 19.91
THB 745.45 754.66 808.04
NZD 14,610 14,746 15,183
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,944 4,083
NOK - 2,733 2,830
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,938.74 - 6,711.39
TWD 738.08 - 894.22
SAR - 6,800.64 7,163.6
KWD - 82,364 87,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26170
AUD 18160 18260 19183
CAD 18294 18394 19410
CHF 31313 31343 32924
CNY 3810.8 3835.8 3971.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29527 29557 31280
GBP 34507 34557 36317
HKD 0 3305 0
JPY 163.77 164.27 174.8
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14725 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20016 20146 20878
THB 0 726.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,660 25,780 26,155
USD20 25,630 25,780 26,155
USD1 24,345 25,780 26,907
AUD 18,195 18,295 19,417
EUR 29,278 29,378 31,056
CAD 18,225 18,325 19,645
SGD 20,077 20,227 20,794
JPY 164.01 165.51 171.15
GBP 34,349 34,499 35,584
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30