Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ngân hàng chủ lực trong nhóm “big 4” đồng loạt giảm lãi suất, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng hoạt động và góp phần thúc đẩy dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
aa

Dẫn dòng vốn hướng về “động cơ” tăng trưởng

Chia sẻ bên lề buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý I/2026 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank cho biết, trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động từ chiến tranh, biến động địa chính trị, giá dầu tăng khiến doanh nghiệp và người dân càng gặp nhiều khó khăn. Nếu lãi suất tiếp tục tăng sẽ càng tạo áp lực khi chi phí đầu vào đã tăng cao.

“Do đó, ngoài việc giảm lãi suất cho vay, ngay từ năm 2025, chúng tôi cũng thực hiện một loạt các giải pháp về miễn giảm lãi cho khách hàng, cơ cấu nợ..., tức hỗ trợ các giải pháp hỗ trợ, sao cho khách hàng phục hồi hoạt động kinh doanh” - bà Bình nhấn mạnh.

Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng
Tính đến ngày 31/3, tổng dư nợ của Agribank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng. Ảnh: Đức Thanh

Phó Tổng Giám đốc Agribank thông tin thêm, với hạn mức tăng trưởng tín dụng được giao khoảng 10,67%, Agribank tiếp tục lựa chọn, phân bổ tín dụng có trọng tâm nhằm hỗ trợ các ngành tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Thông tin về kết quả tăng trưởng tín dụng đầu năm, lãnh đạo Agribank đánh giá, trong quý I/2026, dư nợ của Agribank tăng khoảng 1,8%. Nguyên nhân do Agribank tập trung tín dụng theo đúng tôn chỉ của Agribank và định hướng của Ngân hàng Nhà nước, chủ yếu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, những lĩnh vực động lực của nền kinh tế, đồng thời hạn chế các lĩnh vực rủi ro.

Tính đến ngày 31/3, tổng dư nợ của Agribank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng, trong đó cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, tương đương 64%, phù hợp với sứ mệnh phục vụ “tam nông”.

Tín dụng không đủ dàn trải, ưu tiên “đúng mạch” tăng trưởng

Trong bối cảnh tín dụng toàn hệ thống tăng cao hơn tốc độ huy động vốn, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank nhấn mạnh, việc định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên rất quan trọng, bởi nguồn vốn tín dụng không thể đủ để đáp ứng được các lĩnh vực. “Agribank kiên định với mục tiêu của mình, đó là chỉ tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, chúng tôi không đầu tư, nói không vào những lĩnh vực đầu cơ bất động sản hoặc những lĩnh vực bị ảnh hưởng đến môi trường, đấy là quan điểm khẩu vị rủi ro của Agribank” - Phó Tổng Giám đốc Agribank khẳng định.

Trong năm 2026, bên cạnh lĩnh vực cốt lõi, Agribank cũng mở rộng sang một số lĩnh vực động lực khác như: hạ tầng giao thông và năng lượng... Ngay từ quý I/2026, ngân hàng đã triển khai cho vay 4 dự án cao tốc và một số dự án năng lượng.

Cũng theo ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV, bên cạnh việc giảm lãi suất như vậy, ngân hàng tiếp tục thực hiện các gói lãi suất dành cho các đối tượng khách hàng ưu tiên như: các lĩnh vực sản xuất lương thực, lúa gạo, các nhóm mặt hàng liên quan đến các chuỗi cung ứng sản xuất, năng lượng... Theo đó, BIDV đều giảm mức lãi suất từ 1 - 1,5 phần trăm so với các khoản vay thông thường.

“Chúng tôi cũng tiết giảm chi phí nội bộ, các hoạt động chi phí hoạt động nội bộ, tinh giản quy trình nghiệp vụ, số hóa các sản phẩm dịch vụ để tăng năng suất lao động, cũng như giảm các thời gian tiếp cận quy trình các khoản vay cho khách hàng, giúp cho khách hàng tiếp cận vốn vay ngân hàng được thuận lợi và tốt hơn, giảm thời gian tiếp cận vốn vay” - lãnh đạo BIDV nhấn mạnh.

Nhấn mạnh việc chủ động kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, bà Phùng Thị Bình cho biết, dư nợ kinh doanh bất động sản của Agribank chỉ chiếm khoảng 2%, còn lại chủ yếu là cho vay tiêu dùng phục vụ mua nhà ở, đất ở của người dân. Trong đó, khoảng 83% dư nợ tiêu dùng cá nhân là các khoản vay mua, sửa nhà dưới 5 tỷ đồng.

Đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Việc các ngân hàng “big 4” như: Agribank, BIDV... đồng loạt giảm lãi suất cho vay, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và ngành nghề đóng vai trò động lực tăng trưởng, qua đó, góp phần thúc đẩy tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025 theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước.

Trao đổi tại buổi họp báo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nêu rõ, các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai tích cực, đồng bộ nhằm hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo; tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong đó, một số lĩnh vực chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá như: nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ nền kinh tế ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống; ngành công nghiệp và xây dựng…

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng tích cực giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản đã nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng; chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Cửu Long được đẩy mạnh triển khai.

Một số chương trình khác như: cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách..., cũng đang được các tổ chức tín dụng tích cực triển khai.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, về cơ bản, các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, có những chương trình đã hoàn thành mục tiêu giải ngân, cũng có những chương trình ghi nhận sự cải thiện rất tích cực về doanh số giải ngân đến thời điểm này.

“Ngân hàng Nhà nước theo dõi rất sát kết quả giải ngân của các ngân hàng thương mại tham gia chương trình. Trong trường hợp có phát sinh những khó khăn vướng mắc sẽ tiếp tục tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét giải quyết để làm sao đẩy mạnh giải ngân theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ” - bà Giang nhấn mạnh./.

Vốn ưu đãi mở đường an cư, ngân hàng cam kết đồng hành

Chương trình cho vay theo Nghị quyết 33/NQ-CP; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội được đánh giá là chương trình có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương; đồng thời chỉ đạo các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Nhờ đó, kết quả triển khai chương trình đã có chuyển biến tích cực.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 2/2026, các ngân hàng đã cam kết cho vay gần 22.000 tỷ đồng. Doanh số giải ngân của chương trình đạt khoảng 9.600 tỷ đồng, tăng khoảng 2.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025, bao gồm: 8.100 tỷ đồng cho chủ đầu tư tại 53 dự án; khoảng 1.500 tỷ đồng cho người mua nhà tại 36 dự án. Doanh số giải ngân cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội đạt khoảng 259 tỷ đồng tính từ khi triển khai ngày 31/5/2025.

Với chương trình nhà ở xã hội, Agribank tiếp tục cam kết gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng. Trong bối cảnh nhiều tổ chức tín dụng cho rằng lãi suất cho vay thấp nên không tiếp cận, Agribank vẫn kiên định quan điểm dành trọn gói 30 nghìn tỷ đồng để cho vay nhà ở xã hội với mức lãi suất ưu đãi, dù có thể phải bù lỗ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 09/05/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/05/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80