Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ngân hàng chủ lực trong nhóm “big 4” đồng loạt giảm lãi suất, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng hoạt động và góp phần thúc đẩy dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
aa

Dẫn dòng vốn hướng về “động cơ” tăng trưởng

Chia sẻ bên lề buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý I/2026 do Ngân hàng Nhà nước vừa tổ chức, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank cho biết, trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động từ chiến tranh, biến động địa chính trị, giá dầu tăng khiến doanh nghiệp và người dân càng gặp nhiều khó khăn. Nếu lãi suất tiếp tục tăng sẽ càng tạo áp lực khi chi phí đầu vào đã tăng cao.

“Do đó, ngoài việc giảm lãi suất cho vay, ngay từ năm 2025, chúng tôi cũng thực hiện một loạt các giải pháp về miễn giảm lãi cho khách hàng, cơ cấu nợ..., tức hỗ trợ các giải pháp hỗ trợ, sao cho khách hàng phục hồi hoạt động kinh doanh” - bà Bình nhấn mạnh.

Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng
Tính đến ngày 31/3, tổng dư nợ của Agribank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng. Ảnh: Đức Thanh

Phó Tổng Giám đốc Agribank thông tin thêm, với hạn mức tăng trưởng tín dụng được giao khoảng 10,67%, Agribank tiếp tục lựa chọn, phân bổ tín dụng có trọng tâm nhằm hỗ trợ các ngành tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Thông tin về kết quả tăng trưởng tín dụng đầu năm, lãnh đạo Agribank đánh giá, trong quý I/2026, dư nợ của Agribank tăng khoảng 1,8%. Nguyên nhân do Agribank tập trung tín dụng theo đúng tôn chỉ của Agribank và định hướng của Ngân hàng Nhà nước, chủ yếu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, những lĩnh vực động lực của nền kinh tế, đồng thời hạn chế các lĩnh vực rủi ro.

Tính đến ngày 31/3, tổng dư nợ của Agribank đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng, trong đó cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, tương đương 64%, phù hợp với sứ mệnh phục vụ “tam nông”.

Tín dụng không đủ dàn trải, ưu tiên “đúng mạch” tăng trưởng

Trong bối cảnh tín dụng toàn hệ thống tăng cao hơn tốc độ huy động vốn, bà Phùng Thị Bình - Phó Tổng Giám đốc Agribank nhấn mạnh, việc định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên rất quan trọng, bởi nguồn vốn tín dụng không thể đủ để đáp ứng được các lĩnh vực. “Agribank kiên định với mục tiêu của mình, đó là chỉ tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, chúng tôi không đầu tư, nói không vào những lĩnh vực đầu cơ bất động sản hoặc những lĩnh vực bị ảnh hưởng đến môi trường, đấy là quan điểm khẩu vị rủi ro của Agribank” - Phó Tổng Giám đốc Agribank khẳng định.

Trong năm 2026, bên cạnh lĩnh vực cốt lõi, Agribank cũng mở rộng sang một số lĩnh vực động lực khác như: hạ tầng giao thông và năng lượng... Ngay từ quý I/2026, ngân hàng đã triển khai cho vay 4 dự án cao tốc và một số dự án năng lượng.

Cũng theo ông Lại Tiến Quân - Phó Tổng Giám đốc BIDV, bên cạnh việc giảm lãi suất như vậy, ngân hàng tiếp tục thực hiện các gói lãi suất dành cho các đối tượng khách hàng ưu tiên như: các lĩnh vực sản xuất lương thực, lúa gạo, các nhóm mặt hàng liên quan đến các chuỗi cung ứng sản xuất, năng lượng... Theo đó, BIDV đều giảm mức lãi suất từ 1 - 1,5 phần trăm so với các khoản vay thông thường.

“Chúng tôi cũng tiết giảm chi phí nội bộ, các hoạt động chi phí hoạt động nội bộ, tinh giản quy trình nghiệp vụ, số hóa các sản phẩm dịch vụ để tăng năng suất lao động, cũng như giảm các thời gian tiếp cận quy trình các khoản vay cho khách hàng, giúp cho khách hàng tiếp cận vốn vay ngân hàng được thuận lợi và tốt hơn, giảm thời gian tiếp cận vốn vay” - lãnh đạo BIDV nhấn mạnh.

Nhấn mạnh việc chủ động kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, bà Phùng Thị Bình cho biết, dư nợ kinh doanh bất động sản của Agribank chỉ chiếm khoảng 2%, còn lại chủ yếu là cho vay tiêu dùng phục vụ mua nhà ở, đất ở của người dân. Trong đó, khoảng 83% dư nợ tiêu dùng cá nhân là các khoản vay mua, sửa nhà dưới 5 tỷ đồng.

Đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Việc các ngân hàng “big 4” như: Agribank, BIDV... đồng loạt giảm lãi suất cho vay, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và ngành nghề đóng vai trò động lực tăng trưởng, qua đó, góp phần thúc đẩy tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025 theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước.

Trao đổi tại buổi họp báo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà nêu rõ, các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai tích cực, đồng bộ nhằm hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo; tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong đó, một số lĩnh vực chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá như: nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ nền kinh tế ngành bán buôn, bán lẻ có quy mô dư nợ lớn nhất toàn hệ thống; ngành công nghiệp và xây dựng…

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng tích cực giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản đã nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng; chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng đồng bằng sông Cửu Long được đẩy mạnh triển khai.

Một số chương trình khác như: cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách..., cũng đang được các tổ chức tín dụng tích cực triển khai.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, về cơ bản, các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, có những chương trình đã hoàn thành mục tiêu giải ngân, cũng có những chương trình ghi nhận sự cải thiện rất tích cực về doanh số giải ngân đến thời điểm này.

“Ngân hàng Nhà nước theo dõi rất sát kết quả giải ngân của các ngân hàng thương mại tham gia chương trình. Trong trường hợp có phát sinh những khó khăn vướng mắc sẽ tiếp tục tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét giải quyết để làm sao đẩy mạnh giải ngân theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ” - bà Giang nhấn mạnh./.

Vốn ưu đãi mở đường an cư, ngân hàng cam kết đồng hành

Chương trình cho vay theo Nghị quyết 33/NQ-CP; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội được đánh giá là chương trình có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương; đồng thời chỉ đạo các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Nhờ đó, kết quả triển khai chương trình đã có chuyển biến tích cực.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 2/2026, các ngân hàng đã cam kết cho vay gần 22.000 tỷ đồng. Doanh số giải ngân của chương trình đạt khoảng 9.600 tỷ đồng, tăng khoảng 2.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025, bao gồm: 8.100 tỷ đồng cho chủ đầu tư tại 53 dự án; khoảng 1.500 tỷ đồng cho người mua nhà tại 36 dự án. Doanh số giải ngân cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội đạt khoảng 259 tỷ đồng tính từ khi triển khai ngày 31/5/2025.

Với chương trình nhà ở xã hội, Agribank tiếp tục cam kết gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng. Trong bối cảnh nhiều tổ chức tín dụng cho rằng lãi suất cho vay thấp nên không tiếp cận, Agribank vẫn kiên định quan điểm dành trọn gói 30 nghìn tỷ đồng để cho vay nhà ở xã hội với mức lãi suất ưu đãi, dù có thể phải bù lỗ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

Cục Thuế phối hợp cùng ABBank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh tuân thủ pháp luật thuế

(TBTCO) - Chiều ngày 14/4, Cục Thuế và Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) tổ chức Lễ ký kết hợp tác nhằm đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai. Chương trình được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến tại các chi nhánh ABBank ở 22 tỉnh, thành phố.
Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

Việt Nam - Australia hợp tác thúc đẩy tiến trình chuyển đổi ngân hàng số

(TBTCO) - Cơ quan Thương mại và Đầu tư Australia (Austrade) dẫn đầu phái đoàn gồm 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tài chính (fintech) và công nghệ quản lý, tuân thủ (regtech) của Australia đến Việt Nam, để tìm hiểu sâu về xu hướng chuyển đổi số của các ngân hàng và giới thiệu năng lực, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại thị trường Việt Nam.
Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

(TBTCO) - Prudential Việt Nam ghi nhận tổng chi phí bồi thường và chi trả quyền lợi bảo hiểm khác lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, thể hiện năng lực thực hiện cam kết với khách hàng vào những thời điểm quan trọng nhất một cách mạnh mẽ. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp nâng cao niềm tin trong bối cảnh thị trường bảo hiểm ngày càng đề cao tính minh bạch và trải nghiệm thực tế.
HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

HDBank, VIFC - HCMC và LSE thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, mở rộng kết nối thị trường vốn quốc tế cho doanh nghiệp Việt

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank), phối hợp cùng Sở Giao dịch Chứng khoán London (London Stock Exchange – LSE) và Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC - HCMC) đã tổ chức Diễn đàn Đầu tư cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc kết nối thị trường vốn Việt Nam với hệ thống tài chính toàn cầu.
SHB - kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển

SHB - kết nối nguồn lực, kiến tạo hệ sinh thái phát triển

(TBTCO) - Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ, vai trò của các định chế tài chính ngày càng trở nên then chốt. Với định hướng đồng hành cùng các ngành nền tảng, doanh nghiệp đầu tàu và hệ sinh thái kinh tế, SHB đang từng bước khẳng định vị thế là cầu nối nguồn lực, góp phần kiến tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy: Việt Nam cần cấu trúc vốn đa dạng hơn cho giai đoạn tăng trưởng mới

Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy: Việt Nam cần cấu trúc vốn đa dạng hơn cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Tại phiên thảo luận “Moving Capital to the Right Destination” trong khuôn khổ Bloomberg Businessweek Vietnam, ông Trần Hùng Huy - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đã chia sẻ góc nhìn về áp lực vốn, yêu cầu đa dạng hóa cấu trúc tài chính và định hướng phân bổ dòng vốn cho giai đoạn tăng trưởng mới.
HSBC: Chất lượng tài sản cải thiện, dù lợi nhuận giảm nhẹ

HSBC: Chất lượng tài sản cải thiện, dù lợi nhuận giảm nhẹ

(TBTCO) - Năm 2025, HSBC Việt Nam ghi nhận lợi nhuận trước thuế 4.141,5 tỷ đồng, giảm 6,9%, chủ yếu do thu nhập lãi thuần suy giảm, trong khi chi phí hoạt động tăng. Dư nợ cho vay khách hàng tính đến cuối năm 2025 đạt 75.412,2 tỷ đồng, tăng 8,3%; tỷ lệ nợ xấu giảm còn 0,42%, phản ánh chất lượng tài sản cải thiện.
BAC A BANK tung ưu đãi hoàn tiền tới 20%, miễn phí thường niên trọn đời cho chủ thẻ tín dụng

BAC A BANK tung ưu đãi hoàn tiền tới 20%, miễn phí thường niên trọn đời cho chủ thẻ tín dụng

(TBTCO) - Từ nay đến hết 30/6/2026, khách hàng nhận ngay combo hoàn tiền hấp dẫn và miễn phí thường niên trọn đời khi đăng ký mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 ▲50K 17,400 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,100 ▲90K 17,400 ▲90K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 ▲100K 17,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 ▲50K 15,850 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 15,600 ▲50K 15,800 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,460 ▲50K 16,860 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,410 ▲50K 16,810 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,340 ▲50K 16,790 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,000 ▲1300K 174,000 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 171,000 ▲1300K 174,000 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 171,000 ▲1300K 174,000 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 171,000 ▲1300K 174,000 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 171,000 ▲1300K 174,000 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,000 ▲1300K 174,000 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,150 ▲150K 17,450 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 17,150 ▲150K 17,450 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 17,150 ▲150K 17,450 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 ▲130K 17,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 ▲130K 17,400 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 ▲130K 17,400 ▲130K
NL 99.90 15,700 ▲70K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,750 ▲70K
Trang sức 99.9 16,590 ▲130K 17,290 ▲130K
Trang sức 99.99 16,600 ▲130K 17,300 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲10K 17,452 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲10K 17,453 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,712 ▲10K 1,742 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,712 ▲10K 1,743 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,692 ▲10K 1,727 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 16,449 ▼146556K 17,099 ▼152406K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,788 ▲1125K 129,688 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,698 ▲1020K 117,598 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,608 ▲916K 105,508 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,944 ▲82837K 100,844 ▲90847K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,273 ▲625K 72,173 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲10K 1,745 ▲1572K
Cập nhật: 15/04/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18245 18521 19096
CAD 18578 18855 19471
CHF 33039 33425 34077
CNY 0 3800 3870
EUR 30401 30676 31705
GBP 34916 35309 36240
HKD 0 3228 3430
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15225 15812
SGD 20165 20448 20975
THB 738 802 855
USD (1,2) 26063 0 0
USD (5,10,20) 26104 0 0
USD (50,100) 26133 26152 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,358
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,614 30,639 31,903
JPY 161.64 161.93 170.67
GBP 35,203 35,298 36,294
AUD 18,467 18,534 19,122
CAD 18,826 18,886 19,461
CHF 33,383 33,487 34,272
SGD 20,340 20,403 21,080
CNY - 3,801 3,922
HKD 3,304 3,314 3,431
KRW 16.53 17.24 18.64
THB 787.12 796.84 847.9
NZD 15,241 15,383 15,746
SEK - 2,827 2,909
DKK - 4,097 4,215
NOK - 2,747 2,827
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,253.05 - 7,015.88
TWD 754.39 - 908.28
SAR - 6,919.93 7,243.71
KWD - 83,916 88,736
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,138 26,358
EUR 30,482 30,604 31,789
GBP 35,105 35,246 36,258
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,117 33,250 34,194
JPY 161.80 162.45 169.77
AUD 18,406 18,480 19,073
SGD 20,352 20,434 21,019
THB 803 806 841
CAD 18,777 18,852 19,423
NZD 15,288 15,822
KRW 17.14 18.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26358
AUD 18415 18515 19438
CAD 18756 18856 19867
CHF 33274 33304 34887
CNY 3801.7 3826.7 3962.2
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30572 30602 32325
GBP 35196 35246 37017
HKD 0 3355 0
JPY 162.09 162.59 173.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15322 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20325 20455 21176
THB 0 766.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17150000 17150000 17450000
SBJ 15000000 15000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,358
USD20 26,150 26,200 26,358
USD1 23,848 26,200 26,358
AUD 18,461 18,561 19,678
EUR 30,744 30,744 32,171
CAD 18,717 18,817 20,133
SGD 20,403 20,553 21,780
JPY 162.64 164.14 168.78
GBP 35,127 35,477 36,362
XAU 16,998,000 0 17,302,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 804 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/04/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80