Nhiều trở ngại khách quan, ngân hàng chậm giải ngân gói hỗ trợ 2% lãi suất

Chí Tín
(TBTCO) - Theo khảo sát tình hình triển khai thực tế gói hỗ trợ 2% lãi suất tại một số ngân hàng, việc giải ngân vẫn chưa thực sự mạnh mẽ. Trong đó, nhiều vấn đề vướng mắc phát sinh, nhưng cũng chưa có cơ sở rõ ràng việc “room” tín dụng cạn có phải là lý do cho việc chậm giải ngân hay không.
aa

Các ngân hàng sẽ phải báo cáo

Theo khảo sát của phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam tại một số ngân hàng, nhìn chung tình hình triển khai gói hỗ trợ 2% lãi suất khá chậm. Tuy nhiên, các ngân hàng cũng tỏ ra khá "khép kín", khi đề nghị được trao đổi về vấn đề này. Trong khi đó mới đây, Ngân hàng Nhà nước cũng có yêu cầu các ngân hàng thương mại sớm báo cáo về tình hình triển khai; những khó khăn vướng mắc thực tế và đề xuất các giải pháp.

Chương trình hỗ trợ lãi suất 2% từ nguồn ngân sách nhà nước 40.000 tỷ đồng thực hiện theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP (Nghị định 31) của Chính phủ và Thông tư 03/2022/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước.

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước.

Đối tượng được hỗ trợ lãi suất là các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có mục đích sử dụng vốn vay thuộc ngành nghề lĩnh vực được quy định cụ thể trong Nghị định 31. Thời hạn được hỗ trợ lãi suất tính từ ngày giải ngân khoản vay đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc, hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận giữa ngân hàng thương mại và khách hàng, phù hợp với nguồn kinh phí hỗ trợ lãi suất được thông báo, nhưng không vượt quá ngày 31/12/2023. Mức lãi suất hỗ trợ đối với khách hàng là 2%/năm, tính trên số dư nợ vay và thời hạn cho vay hỗ trợ lãi suất thực tế nằm trong khoảng thời gian quy định tại Nghị định 31.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, việc triển khai gói hỗ trợ lãi suất cũng có rất nhiều vấn đề liên quan cần thực hiện. Theo đó, các ngân hàng một mặt cũng phải rà soát lại các khách hàng đã cho vay từ đầu năm đến nay, đến phân loại đâu là những đối tượng được thụ hưởng chính, mặt khác xem xét phân loại đối với các khách hàng vay mới. Cho đến thời điểm hiện nay, tình hình triển khai chung có phần chậm, nhưng việc đánh giá nguyên nhân cần phải xem xét đánh giá rõ ràng trên cơ sở các ngân hàng tổng hợp báo cáo về Ngân hàng Nhà nước.

Chưa đủ cơ sở để quy kết cho “room” tín dụng

Ngay những ngày đầu triển khai gói hỗ trợ lãi suất, cũng đã có một số ý kiến lo ngại khi cho rằng việc các ngân hàng gần hết “room” tín dụng có thể sẽ ảnh hưởng tốc độ giải ngân của chương trình. Tại cuộc họp triển khai gói hỗ trợ lãi suất giữa Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại diễn ra hồi cuối tháng 5/2022, ông Trần Phương - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết, khi thực chương trình sẽ phát sinh thêm các nhu cầu về cấp tín dụng. Do đó ông Phương có đưa ra kiến nghị Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét nới “room” tín dụng cho các tổ chức tín dụng lớn để các ngân hàng có điều kiện triển khai thông suốt chương trình.

Quy định về quyết toán hỗ trợ lãi suất hàng năm tại Nghị định 31

Ngân hàng thương mại có trách nhiệm thực hiện quyết toán hỗ trợ lãi suất hằng năm và lập hồ sơ quyết toán hỗ trợ lãi suất, trong đó các khoản vay được hỗ trợ lãi suất trong hồ sơ quyết toán phải đảm bảo đúng đối tượng, đáp ứng đầy đủ điều kiện được hỗ trợ lãi suất theo quy định tại nghị định này. Các ngân hàng phải xác định chính xác số tiền hỗ trợ lãi suất cho từng khách hàng và tổng hợp chung của cả ngân hàng, số tiền hỗ trợ lãi suất cho khách hàng có đầy đủ chứng từ hợp pháp. Trước ngày 10/2/2023 (đối với các khoản hỗ trợ lãi suất năm 2022) và trước ngày 10/2/2024 (đối với các khoản hỗ trợ lãi suất năm 2023), ngân hàng thương mại gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hồ sơ quyết toán hỗ trợ lãi suất năm.

Đến thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước cũng chưa có tín hiệu cho thấy sẽ nới “room” cho các ngân hàng. Tuy nhiên trao đổi với phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam mới đây, ông Nguyễn Quốc Hùng cho biết, hiện nay cũng chưa có cơ sở nào đánh giá rõ ràng việc “room” có phải là lý do của việc chậm triển khai gói hỗ trợ lãi suất hay không. Ngoài ra theo ông Hùng, bên cạnh gói hỗ trợ lãi suất thì chính sách tiền tệ còn phải giải quyết nhiều nhiệm vụ khác trong việc ổn định kinh tế vĩ mô. “Đặc biệt, mục tiêu kiểm soát lạm phát là nhiệm vụ rất quan trong thời gian qua” - ông Hùng nói.

Ngoài ra, theo chia sẻ của ông Hùng, thực tế cho thấy, việc triển khai cũng phải đối diện với nhiều vấn đề mà không phải ngân hàng có thể tự giải quyết được. Chẳng hạn như dù nhiều trường hợp khách đang rất cần vốn, nhưng không phải đối tượng của chương trình, nhưng ngược lại, nhiều đối tượng đủ điều kiện thì họ lại “dửng dưng” không có nhu cầu vay.

Ngoài ra trong thực tế, các ngân hàng khi thực hiện chương trình có nhiều vấn đề không tự xác định được, nên phải có thời gian trao đổi, chờ Ngân hàng Nhà nước giải thích hướng dẫn. Cụ thể có trường hợp các ngân hàng thắc mắc là theo quy định thì khoản vay được hỗ trợ lãi suất là khoản vay được ký kết thỏa thuận cho vay và giải ngân từ ngày 1/1/2022. Như vậy, ngân hàng cũng không biết rõ với trường hợp đã thu lãi mà không thực hiện hỗ trợ lãi suất, ngân hàng có phải hoàn trả cho khách hàng tiền lãi hỗ trợ lãi suất hay không. Về việc này, Ngân hàng Nhà nước cho biết, trường hợp thời điểm trả nợ lãi phát sinh trong khoảng thời gian nghị định có hiệu lực thi hành đến ngày 31/12/2023, sau khi xác định khách hàng thuộc đối tượng, đáp ứng điều kiện được hỗ trợ lãi suất thì ngân hàng thương mại thực hiện hỗ trợ lãi suất cho toàn bộ kỳ thu lãi.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 14,800 ▼200K 15,000 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 14,750 ▼200K 14,950 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼200K 16,000 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼200K 15,950 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼200K 15,930 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼2500K 161,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼250K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼200K 16,150 ▼200K
NL 99.90 14,800 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▲100K
Trang sức 99.9 15,340 ▼200K 16,040 ▼200K
Trang sức 99.99 15,350 ▼200K 16,050 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1424K 16,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1424K 16,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1445K 161 ▼1472K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1445K 1,611 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1427K 1,595 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼2277K 157,921 ▼2277K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼1725K 119,787 ▼1725K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼1564K 108,621 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▼1403K 97,455 ▼1403K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼1341K 93,148 ▼1341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼959K 66,668 ▼959K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▼28K 1,615 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1424K 1,615 ▼20K
Cập nhật: 20/05/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18210 18486 19058
CAD 18617 18894 19511
CHF 32699 33083 33726
CNY 0 3834 3926
EUR 29942 30215 31241
GBP 34508 34900 35832
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15080 15664
SGD 20040 20323 20845
THB 721 785 838
USD (1,2) 26098 0 0
USD (5,10,20) 26140 0 0
USD (50,100) 26168 26188 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,140 30,164 31,420
JPY 161.76 162.05 170.82
GBP 34,750 34,844 35,838
AUD 18,433 18,500 19,088
CAD 18,851 18,912 19,493
CHF 33,042 33,145 33,926
SGD 20,196 20,259 20,935
CNY - 3,807 3,929
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.18 16.87 18.25
THB 770.65 780.17 829.95
NZD 15,083 15,223 15,585
SEK - 2,761 2,842
DKK - 4,033 4,151
NOK - 2,794 2,876
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,217.14 - 6,976.36
TWD 754.5 - 908.74
SAR - 6,925.1 7,251.82
KWD - 83,846 88,695
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,131 26,151 26,391
EUR 29,994 30,114 31,292
GBP 34,644 34,783 35,788
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,789 32,921 33,847
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,338 18,412 18,999
SGD 20,187 20,268 20,846
THB 786 789 823
CAD 18,799 18,874 19,445
NZD 15,089 15,620
KRW 16.72 18.34
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26391
AUD 18380 18480 19408
CAD 18810 18910 19924
CHF 32982 33012 34591
CNY 3811.2 3836.2 3971.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30135 30165 31888
GBP 34807 34857 36615
HKD 0 3355 0
JPY 162.37 162.87 173.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15182 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20188 20318 21044
THB 0 750.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15850000 15850000 16150000
SBJ 14000000 14000000 16150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,192 26,242 26,391
USD20 26,192 26,242 26,391
USD1 26,192 26,242 26,391
AUD 18,435 18,535 19,643
EUR 30,272 30,272 31,681
CAD 18,747 18,847 20,154
SGD 20,274 20,424 21,243
JPY 162.82 164.32 168.87
GBP 34,707 35,057 36,171
XAU 15,848,000 0 16,152,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/05/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80