Nợ xấu: Số liệu chính thức không hẳn là số liệu chính xác...

Hoàng Yến
Ngay sau khi Moody's đánh giá tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam cao gấp hơn 3 lần con số chính thức, Ngân hàng Nhà nước đã có thông tin phản hồi. PV TBTCVN đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành xung quanh chủ đề này.
aa

No xau

>> NHNN phản hồi về số liệu nợ xấu của Moody’s

>> Nợ xấu: Lời giải cho điệp khúc nghẹt tín dụng, 'ế' vốn

* Cuối tuần qua, NHNN đã có thông tin phản bác lại việc hãng xếp hạng tín dụng Moody’s cho rằng nợ xấu của Việt Nam ít nhất là 15%. NHNN cho rằng do chưa thống nhất chuẩn mực nên số liệu nợ xấu khác nhau là bình thường. Ông đánh giá thế nào về việc này?

- Đây là một cách để diễn giải một thứ không bình thường thành bình thường. Có nhiều cách khác nhau khiến số liệu nợ xấu thay đổi. Ví dụ như những khoản nợ VAMC đã mua có thể được chuyển ra khỏi bảng kế toán của ngân hàng, dù vẫn nợ xấu. Thứ hai là đảo nợ, cho vay mới để trả nợ cũ, với cách này một số khoản nợ xấu cũng không còn xấu nữa. Tất nhiên đó là về sổ sách chứ trên thực tế các DN chưa trả được nợ. Ngoài ra, cũng có rất nhiều cách tính để nợ xấu không thuộc vào trong 4 hạng mục quy định của NHNN.

Ngoài ra, khi Thông tư 02 của NHNN yêu cầu các ngân hàng thương mại (NHTM) khai báo đầy đủ, thì NHTM nhận thấy rằng mình ở cái thế không thể khai báo đầy đủ, nên đã xin NHNN hoãn từ 30/6/2013 đến 30/6/2014. Như thế, rõ ràng là chúng ta đã tự mình thừa nhận rằng mình không minh bạch được, phải chấp nhận con số của mình không hoàn chỉnh, không đầy đủ. NHTM không thể làm nó hoàn chỉnh, minh bạch và NHNN cũng không ép các NHTM khai báo đầy đủ.

Có những lý do khiến NHNN và NHTM lo lắng. Ví dụ như nếu khai báo đầy đủ, thì liệu NHTM có đủ vốn điều lệ, vốn tự có và dự trữ để dùng làm quỹ dự phòng, dự trữ hay không. Nếu không có thì NHTM sẽ không còn đủ vốn điều lệ theo yêu cầu nữa, như thế sẽ không thể tiếp tục hoạt động.

Theo quy định của Luật các TCTD thì các ngân hàng không đáp ứng được các yêu cầu về vốn, nợ xấu sẽ không được hoạt động, khi đó NHNN sẽ giải quyết ra sao?… Tóm lại, có nhiều lý do khiến chúng ta phải che đậy sự thật về những món nợ xấu, nợ khó đòi đó. Vì vậy, NHNN cũng không nói rằng các tổ chức đó đánh giá đúng hay đánh giá sai. Cách nói của NHNN là không thừa nhận cũng không phủ nhận. Xét cho cùng thì từ tất cả những lý do đã nêu, con số của NHNN đưa ra có thể là con số chính thức nhưng không hẳn là con số chính xác.

Nợ xấu: Số liệu chính thức không hẳn là số liệu chính xác...
Tuy rằng không minh bạch, buộc phải che giấu con số nợ xấu, nhưng ngân hàng vẫn biết trong người mình có bệnh, vẫn tìm cách này cách khác để chữa bệnh, chỉ có điều không minh bạch được mà thôi.    Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

* Thưa ông, việc có những con số khác nhau khá lớn về nợ xấu như vậy thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến cách xử lý nợ xấu của Việt Nam?

- Thực tế, dù đưa ra con số 4, hay 5% nhưng mà cách hành động của chúng ta vẫn công nhận nợ xấu không phải là 4 hay 5 hay 7%. Ví dụ như VAMC cuối năm nay mua được hơn 35.000 tỷ đồng nợ xấu, bằng gần một nửa tổng dư nợ xấu, nhưng chính NHNN cũng nói rằng trong năm 2014, VAMC sẽ mua tới 100.000 tỷ đồng nợ xấu nữa. Nếu như vậy thì làm sao có cả trăm ngàn tỷ đồng nợ xấu để cho VAMC mua trong năm 2014?

Tóm lại, tuy rằng không minh bạch, buộc phải che giấu con số nợ xấu, nhưng ngân hàng vẫn biết trong người mình có bệnh, vẫn tìm cách này cách khác để chữa bệnh, chỉ có điều không minh bạch được mà thôi.

* Vậy ông đánh giá thế nào về triển vọng xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng trong năm 2014 ?

- NHNN và các cơ quan chức năng đã có những biện pháp để xử lý nợ xấu. Việc làm bước đầu của VAMC là “dọn dẹp” các ngân hàng sao cho “sạch sẽ” hơn, để có thể đáp ứng các tiêu chí, quy định mà tiếp tục làm việc. Tạo điều kiện cho các ngân hàng gặp khó khăn có thể tồn tại cũng là một cách xử lý.

Tuy nhiên, số tài sản bảo đảm, thế chấp cho nợ xấu đấy phải giải quyết ra sao thì chưa có phương án. NHNN và VAMC mới chỉ tạm nhận nợ xấu, nhưng không có nghĩa là VAMC mua đứt số nợ xấu đấy. Các NHTM còn có trách nhiệm lập dự phòng 20% mỗi năm, để sau 5 năm lại nhận lại nợ xấu và bù đắp bằng dự phòng. Chính vì vậy VAMC cần nghiên cứu phương thức thế nào để xử lý nợ xấu, ví dụ như tái cấu trúc DN để DN khỏe mạnh lên, có khả năng trả nợ. Hoặc hoàn chỉnh các dự án bất động sản thế chấp để có thể bán được, hoặc chuyển đổi mục đích để những tài sản thế chấp có thể chuyển thành tiền để trả nợ.

Theo tôi được biết, VAMC đã nghiên cứu một số phương thức khả thi. Hy vọng rằng trong năm 2014, các phương án VAMC nghiên cứu sẽ có hiệu quả và giải quyết phần nào nợ xấu trong năm nay, tạo điều kiện, cơ sở giải quyết nợ xấu trong năm tới.

* Xin cảm ơn ông!

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

(TBTCO) - Sáng 14/9, tỷ giá trung tâm tăng 11 đồng lên 25.607 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng 0,09% lên 99,21 điểm. Lạm phát cơ bản Mỹ tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng quyết định lãi suất trong tuần này.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▼600K 145,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 14,260 ▼40K 14,560 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 ▼40K 14,610 ▼40K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 ▼40K 14,520 ▼40K
Trang sức 99.99 13,930 ▼40K 14,530 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 ▲1283K 14,562 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 ▲1283K 14,563 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼4K 1,451 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼4K 1,452 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 ▲1256K 1,441 ▼4K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 ▼396K 142,673 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 ▼300K 108,236 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 ▲79486K 98,148 ▲88306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 ▼70678K 8,806 ▼79498K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 ▼233K 84,169 ▼233K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 ▼167K 60,246 ▼167K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 ▲1283K 1,456 ▲1310K
Cập nhật: 14/09/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,692 25,812 26,160
USD20 25,662 25,812 26,160
USD1 25,642 25,812 26,160
AUD 18,324 18,424 19,537
EUR 29,484 29,584 31,249
CAD 18,327 18,427 19,737
SGD 20,203 20,353 20,908
JPY 166.21 167.71 173.25
GBP 34,522 34,672 35,736
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/09/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30