OCB đồng hành cùng doanh nghiệp, đẩy mạnh tài chính xanh

(TBTCO) - Mới đây, Ngân hàng Phương Đông (OCB) đã giới thiệu sản phẩm “Tiền gửi Xanh” - OCB Green Deposit dành cho doanh nghiệp, với cam kết sử dụng nguồn vốn huy động để tài trợ cho các dự án xanh.
aa
OCB đồng hành cùng doanh nghiệp, đẩy mạnh tài chính xanh
OCB thể hiện vai trò tiên phong trong cuộc “cách mạng xanh” qua nhiều hoạt động dẫn vốn hiệu quả.

Hiện nay, tài chính xanh được xem là một trong những công cụ kinh tế hiệu quả mà các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều chú trọng để hướng đến tăng trưởng xanh và bền vững.

Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (2022), Việt Nam cần nguồn lực rất lớn, khoảng 368 tỷ USD cho cả giai đoạn đến năm 2040, tương đương 20 tỷ USD mỗi năm. Do vậy, bên cạnh nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước hay nguồn vốn vay, hỗ trợ từ các định chế, tổ chức tài chính quốc tế thì việc chủ động xây dựng hàng loạt cơ chế, chính sách và giải pháp huy động nguồn vốn, khuyến khích dòng vốn tư nhân đầu tư vào các lĩnh vực xanh là điều vô cùng cần thiết. Trước thực tế đó, đặt ra yêu cầu ngân hàng cần triển khai thêm nhiều hành động mạnh mẽ trong “cuộc đua” phát triển thị trường tài chính xanh hiện nay.

Tại OCB, việc thực hiện chiến lược phát triển bền vững hướng đến ngân hàng Xanh tiên phong tại Việt Nam đã được xác định, xây dựng nền móng và triển khai từ rất sớm. Cụ thể, OCB đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động nhằm gia tăng nguồn vốn xanh cũng như cung cấp tín dụng xanh.

Từ năm 2012, ngân hàng đã bắt đầu hành trình này bằng các giải pháp kiện toàn hệ thống quản lý rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế, từng bước xây dựng chính sách và cho ra mắt thị trường sản phẩm tín dụng xanh.

Năm 2016, OCB tham gia chương trình tài trợ dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững (VnSAT) và tài chính nông thôn (RDF) của World Bank nhằm hỗ trợ cho vay các cá nhân, hộ gia đình cũng như doanh nghiệp sở hữu tư nhân liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đến năm 2020 ra mắt sản phẩm cho vay đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái cho khách hàng MSME, SME. Năm 2021, triển khai sản phẩm cho vay đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái dành cho khách hàng doanh nghiệp.

Năm 2023, OCB đã đưa khoản vay dài hạn hỗ trợ doanh nghiệp SME, đặc biệt là thúc đẩy tài trợ cho các dự án xanh giúp giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu với sự trợ lực từ định chế tài chính quốc tế như DEG, IFC thông qua các khoản vay dài hạn.

Năm 2024, ngân hàng đã tiến hành mở rộng danh mục cho vay với mục tiêu phát triển bền vững thuộc các lĩnh vực xã hội (hỗ trợ doanh nghiệp SME nói chung và doanh nghiệp SME do phụ nữ làm chủ) và lĩnh vực xanh (dự án giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu). Từ đó, hàng loạt chương trình, sản phẩm tín dụng xanh được tung ra, được các doanh nghiệp cũng như người dân đón nhận, nhất là chương trình ưu đãi dành cho khách hàng cá nhân vay vốn mua căn hộ xanh.

Gần đây nhất, OCB đã cho ra mắt sản phẩm “Tiền gửi Xanh” - OCB Green Deposit dành cho khách hàng doanh nghiệp với lãi suất cố định xuyên suốt thời gian gửi. Đây là sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn từ 3 tháng đến 36 tháng, áp dụng cho loại tiền VND và USD với số tiền gửi tối thiểu 1.000.000.000 VND hoặc 50.000 USD. Khoản tiền gửi của khách hàng sẽ được ngân hàng cam kết sử dụng tài trợ cho các dự án xanh.

Đặc biệt, OCB sẽ cung cấp Giấy chứng nhận cho doanh nghiệp đã tham gia sản phẩm “Tiền gửi Xanh” như một hình thức vinh danh và cảm ơn sự đồng hành của khách hàng trong việc chung tay xây dựng một tương lai bền vững.

OCB đồng hành cùng doanh nghiệp, đẩy mạnh tài chính xanh
OCB Green Deposit - kênh đầu tư xanh an toàn, hiệu quả cho doanh nghiệp

“OCB đã xác định ngân hàng không chỉ là kênh cung cấp vốn mà còn là “người điều phối” và định hướng dòng vốn chảy vào các lĩnh vực chiến lược như năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững và phát triển đô thị xanh. Do vậy, chúng tôi không ngừng đẩy mạnh xây dựng và bổ sung thêm sản phẩm “Tiền gửi Xanh” vào danh mục giải pháp tài chính xanh toàn ngân hàng. Với sản phẩm này, chúng tôi kỳ vọng bên cạnh việc đem lại lợi ích tối ưu cho khách hàng gửi tiền, còn có thể song hành cùng các doanh nghiệp chung định hướng phát triển bền vững, qua đó đẩy mạnh nguồn lực tài chính phục vụ những dự án xanh, xây dựng tương lai xanh ” - đại diện lãnh đạo OCB chia sẻ.

Thực tế hiện nay, tiền gửi xanh được dự báo sẽ ngày càng mạnh mẽ, khi các cơ quan Chính phủ và tổ chức quốc tế đều thúc đẩy các chính sách và khung pháp lý hướng đến tăng cường tài chính xanh. Sự quan tâm của các nhà đầu tư cũng đang gia tăng, khi họ nhận thấy rằng các dự án này không chỉ mang lại lợi ích tài chính lâu dài mà còn giúp xây dựng thương hiệu và uy tín bền vững. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng không ngừng nghiên cứu và phát triển sản phẩm tín dụng mới, tiền gửi mới linh hoạt hơn, nhằm hỗ trợ ngành nghề kinh tế xanh và tuần hoàn.

“Sự khác biệt của OCB so với các tổ chức khác là chúng tôi tập trung vào thế mạnh cốt lõi của ngân hàng, đồng hành cùng khách hàng, đưa ra giải pháp sản phẩm và dịch vụ tài chính đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất của khách hàng trong hành trình phát triển bền vững như: tín dụng xanh, tín dụng xã hội, dịch vụ tư vấn chuyên biệt theo từng phân khúc khách hàng, ngành cụ thể bao gồm năng lượng tái tạo, công trình xanh thân thiện với môi trường hoặc nông nghiệp bền vững… Bên cạnh đó, hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội (ESMS) được OCB không ngừng duy trì, nâng cấp, áp dụng để quản lý hiệu quả rủi ro ESG trong hoạt động tài trợ của ngân hàng, giúp khách hàng kiểm soát rủi ro, quản lý tác động môi trường và xã hội, tăng cường hiệu quả bền vững” - đại diện lãnh đạo OCB cho biết thêm./.

Tính đến thời điểm cuối năm 2024, lĩnh vực tín dụng xanh tại OCB tăng 30% so với năm 2023. Ngân hàng đã và đang tập trung ưu tiên nguồn vốn, mở rộng cho vay có hiệu quả các dự án xanh, bền vững như năng lượng tái tạo, xử lý cung cấp nước sạch, xử lý nước thải, công trình xanh, và nông nghiệp thông minh áp dụng các phương pháp nuôi trồng bền vững, tưới nhỏ giọt, lưu trữ nước.
Việt Nguyễn

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80